LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Tư vấn về tội huỷ hoại rừng

Tội huỷ hoại rừng là hành vi đốt, phá rừng trái phép hoặc bất kỳ hành vi nào huỷ hoại rừng. Tội danh này được quy định tại Điều 189 Bộ luật hình sự với các dấu hiệu pháp lý và hình phạt tương ứng như sau

I. Dấu hiệu pháp lý

1.  Khách thể: tội phạm này xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Đối tượng tác động ở đây là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng trên đất lâm nghiệp (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất).

2.  Khách quan: có hành vi đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng.

- Đốt rừng: là dùng lửa hoặc các chất cháy khác đốt một phần diện tích hoặc toàn bộ diện tích rừng.

- Phá rừng: là hành vi chặt phá cây rừng, khai thác tài nguyên rừng không được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.

- Hành vi huỷ hoại rừng: dùng hoá chất tiêu diệt cây rừng, thả gia súc đạp phá cây rừng…

Hành vi huỷ hoại rừng cấu thành tội phạm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đã gây hậu quả nghiêm trọng;

- Đã bị xử lý hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.    

“Gây hậu quả nghiêm trọng”  khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Đốt rừng, phá rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng sản xuất với diện tích từ trên mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đến hai lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Ví dụ: Mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành đối với hành vi phá rừng sản xuất là 10.000m2. Nguyễn Văn V phá rừng sản xuất với diện tích là 15.000m2. Hành vi phạm tội của V thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng.

Gây thiệt hại về lâm sản có giá trị từ trên ba mươi triệu đồng đến sáu mươi triệu đồng đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên; từ trên năm mươi triệu đồng đến một trăm triệu đồng đối với rừng sản xuất là rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích đốt rừng, phá rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng không tập trung mà phân tán, rải rác trong cùng một tiểu khu hoặc nhiều tiểu khu.

Trong trường hợp huỷ hoại rừng mà còn gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của người khác, tài sản của Nhà nước, tập thể, của cá nhân đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì xử lý về tội huỷ hoại rừng và tội tương ứng quy định trong Bộ luật hình sự.

3. Chủ quan: là lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp). Động cơ, mục đích phạm tội không là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

4. Chủ thể: bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định (kể cả những người được Nhà nước giao đất trồng rừng, quản lý rừng, nếu họ vi phạm các quy định về bảo vệ rừng). Tuy nhiên, khoản 1 Điều này quy định tội nghiêm trọng nên chỉ có những người từ đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể. Các khoản còn lại thì chủ thể là người đủ 14 tuổi trở lên.

bv-rung-jpg-06082014115646-U17.jpg

II.  Hình phạt

1. Người nào đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

- Có tổ chức;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

- Hủy hoại diện tích rừng rất lớn;

- Chặt phá các loại thực vật quý hiếm thuộc danh mục quy định của Chính phủ;

- Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

- Hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn;

- Hủy hoại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

- Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất

Tư vấn nhanh