Mạc Thu Trang

Tranh chấp tài sản khi không đăng ký kết hôn

Luật sư tư vấn về tranh chấp tài sản khi chưa đăng ký kết hôn. Nội dung cụ thể như sau: Năm nay tôi 25 tuổi. Năm 2012 tôi lấy chồng nhưng không làm giấy đăng ký kết hôn có chung một người con được 4 tuổi. Lúc con được 6 tháng tuổi tôi đã về nhà mẹ sống cho đến giờ và không liên lạc gì với bên chồng do tôi đổi số điện thoại để tránh bị làm phiền (do chồng tôi không biết làm ăn, hay đá gà đánh bài, đánh đề, đe dọa tôi là sẽ đem bệnh HIV về lây cho tôi).

Gia đình bên kia cũng không thăm nom hay chu cấp nuôi con. Tôi xin hỏi sau này tài sản mà tôi có, bên kia có được quyền tranh chấp hay không do có con chung. Và tôi cần giải quyết ly hôn hay không. Hay chỉ cần xin giấy chứng nhận độc thân là được. Xin luật sư tư vấn giúp tôi cám ơn!

Trả lời:

Cảm ơn chị đã tin tưởng và gửi yêu cầu tới Công ty Luật Minh Gia! Yêu cầu của chị được tư vấn như sau:

Căn cứ khoản 1 điều 14 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”

Theo điều 16 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.

Căn cứ vào điều 221 Bộ luật dân sự 2015 quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản trong trường hợp sau đây:

“1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

2. Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

3. Thu hoa lợi, lợi tức.

4. Tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến.

5. Được thừa kế.

6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên.

7. Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

8. Trường hợp khác do luật quy định.”

Theo trình bày của chị năm 2012 chị lấy chồng nhưng không làm giấy đăng ký kết hôn và có chung một người con được 4 tuổi. Lúc con được 6 tháng tuổi chị đã về nhà mẹ đẻ sống cho đến giờ và không liên lạc gì với bên chồng do chồng chị không biết làm ăn, hay đá gà đánh bài, đánh đề, đe dọa sẽ đem bệnh HIV về lây cho chị. Gia đình bên chồng cũng không thăm nom hay chu cấp nuôi con chung của anh chị. Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật thì tài sản là tài sản riêng của chị khi chồng không có công sức đóng góp, vì vậy sau này có sẽ thuộc quyền sở hữu của chị, bên chồng chị cũng có không có quyền tranh chấp mặc dù có con chung. Đồng thời chị cũng không cần giải quyết ly hôn hay xin giấy chứng nhận độc thân.

Trân trọng.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí