LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác là hành vi của người có trách nhiệm trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác mà vi phạm quy định về quản lý, sử dụng các chất đó.

 

I. Cơ sở pháp lý


Căn cứ tại Điều 201 Bộ luật hình sự quy định như sau:


"1. Người nào có trách nhiệm trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác mà vi phạm quy định về quản lý, sử dụng các chất đó, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.


2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:


a) Có tổ chức;


b) Phạm tội nhiều lần;


c) Gây hậu quả nghiêm trọng.


3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.


4. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân.


5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

 

II.  Cấu thành tội phạm


1. Đối tượng: Thuốc có chứa chất gây nghiện và các chất ma túy khác.


2. Hành vi khách quan:


- Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khácquy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự được hiểu là hành vi của người có trách nhiệm trong việc nghiên cứu, giám định, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, mua bán, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, phân phối, cấp phát, sử dụng, xử lý, trao đổi thuốc gây nghiện và các chất ma túy khác đã không làm đúng quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất đó (như không thực hiện đúng với giấy phép quy định về số lượng, chất lượng, chủng loại, sai với các quy trình hoạt động hoặc phân phối hoặc cấp phát không đúng đối tượng. Ví dụ, bán thuốc gây nghiện cho người khác mà không có đơn của thầy thuốc có thẩm quyền.. hoặc thiếu trách nhiệm trong các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác, để xảy ra mất mát, hư hỏng, sai số lượng, chất lượng, chủng loại…).


2. Yếu tố lỗi: Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.


3. Chủ thể: Chủ thể của tội phạm là người có trách nhiệm trong việc nghiên cứu, giám định, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, mua bán, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, phân phối, cấp phát, sử dụng, xử lý, trao đổi thuốc gây nghiện và các chất ma túy khác.

 

III. Hình phạt


-Hình phạt nhẹ nhất làphạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.


-Phạt tù từ 5 năm đến 12 năm nếu rơi vào trường hợp tại khoản 2 Điều 201.


-Phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm nếu phạm tội trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng.


- Phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân nếu phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.


Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Trân trọng!

Chuyên viên Trần Cúc - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169