LS Thanh Hương

Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân hợp đồng ngắn hạn?

Luật sư tư vấn trường hợp công ty không khấu trừ thuế TNCN với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới ba tháng nhưng có viết bản cam kết theo mẫu 23, cũng những vấn đề pháp lý liên quan đến kiểm tra và quyết toán thuế.

Xin hỏi Luật sư:

1) Thuế TNCN: năm 2015 cty có ký hợp đồng lao động thời vụ dưới 3 tháng, khi ký hợp đồng thì người LĐ cũng ký cam kết mẫu 23. Cho nên khi thanh toán lương cty không có trích 10% thuế TNCN. Như vậy khi quyết toán thuế TNCN thì những lao động này cty kê khai ở bảng kê 05-2BKK có đùng không? Xin LS tư vấn công ty làm như vậy có đúng không?

2) Năm 2016 công ty thuộc một trong số DN bị kiểm toán thuế kiểm tra hồ sơ của DN. Sau khi kiểm toán thuế xong bên kiểm toán có ra Biên bản kiểm tra, đối chiếu số liệu báo cáo của người nộp thuế và có cả 3 bên ký: DN, cơ quan thuế và bên kiểm toán ký. Như vậy năm 2016 này cơ quan thuế có phải kiểm tra quyết toán của DN mình nữa hay không hay thuế chấp nhận luôn số liệu của bên kiểm toán mà không cần kiểm tra năm 2016. Vì công ty mình có năm 2015+2016+2017 thuế chưa ktra. Xin LS tư vấn giúp. Cảm ơn.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn tư vấn bởi Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

Thông tư 111/2013/TT-BTC có quy định về khấu trừ thuế tại Tiểu mục i, Khoản 1, Điều 25 như sau:

Điều 25. Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế

1. Khấu trừ thuế

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

Như vậy, với trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn dưới 03 tháng mà có tổng mức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân. Tuy nhiên, quy định trên cũng có thể hiện, nếu người lao động ký cam kết thể hiện ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì sẽ không bị khấu trừ thuế cho khoản thu nhập đó.

Vấn đề khai thuế với những bản cam kết này được thể hiện tại Khoản 12, Điều 16 - Thông tư 156/2013/TT-BTC như sau:

Điều 16. Khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân

12. Trường hợp cá nhân đăng ký người phụ thuộc giảm trừ gia cảnh; tổ chức, cá nhân trả thu nhập đề nghị cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân; cá nhân khai thuế về người phải trực tiếp nuôi dưỡng và cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng có cam kết thu nhập chưa đến mức phải nộp thuế thì khai theo các mẫu số 16/ĐK-TNCN, 17/TNCN, 21a/XN-TNCN, 21b/XN-TNCN và 23/CK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này. Cơ quan thuế thông báo mã số thuế người phụ thuộc theo mẫu số 16-1/TB-MST ban hành kèm theo Thông tư này.

Theo những phân tích trên thì việc công ty không khấu trừ trích 10% thuế thu nhập cả nhân và kê khai những đối tượng này theo bảng kê 05-2BKK là đúng quy định. Tuy nhiên mẫu tờ khai này đã hết hiệu lực và được thay thế bằng mẫu 05/QTT theo Thông tư 92/2015/TT-BTC.

Vấn đề thứ hai, bạn có cung cấp thông tin doanh nghiệp bị kiểm toán thuế kiểm tra hồ sơ của doanh nghiệp nhưng lại không trình bãy rõ kiểm tra về hồ sơ, lĩnh vực nào và mục đích của thanh tra kiểm tra là gì nên rất khó để chúng tôi xác định vấn đề và đưa ra hướng giải quyết cho bạn. Tuy nhiên, vấn đề kiểm tra thuế của cơ quan kiểm toán độc lập với thủ tục quyết toán thuế với cơ quan thế nên công ty bạn sẽ vẫn phải thực hiện thủ tục quyết toán thuế theo đúng quy định.

Trân trọng.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí