Trần Phương Hà

Của hồi môn có phải chia khi ly hôn không?

Kính chào luatminhgia.com.vn, cho tôi hỏi về chia tài sản là của hồi môn khi ly hôn như sau: Tôi tên T. Tôi và chồng cưới nhau từ tháng 8/2015. Sống với nhau đến đầu tháng 3/2015 thì li thân. Sau đó chồng tôi đưa đơn li hôn đơn phương. Khi cưới gia đình chồng có cho tôi 01 lượng 24k và 01 đôi bông hột xoàn. Chị chồng cho 02 vợ chồng 800 USD (sau đó chồng tôi lấy 300 USD mua cho tôi bộ vòng ciment, còn lại 500 USD tôi giữ).

Vào tháng 3/2018 chồng tôi thu hoạch lúa và đưa tiền cho tôi mua thêm 04 chỉ vàng 24k (hiện tôi đang giữ). Vậy cho tôi hỏi, toàn bộ nữ trang cưới và USD, 04 chỉ vàng có được công nhận là tài sản chung hay không ? Vào 2021, chúng tôi có ra tòa để xử lí li hôn. Chồng tôi một mực cho rằng, bộ vòng ciment 07 chiếc, 500 USD còn lại và 04 chỉ vàng là tiền của chồng tôi làm ra do đó thuộc tài sản riêng của chồng tôi. Còn 01 lượng vàng cưới và 01 bông tai cưới là của chung phải chia làm hai. Tôi không đồng ý chia vàng cưới làm hai, vì khi cưới bên gia chồng đã có nói là cho dâu (cho đàn gái, không nói cho 02 vợ chồng). Cuối cùng tòa căn cứ vào luật hôn nhân gia đình để xử tất cả tài sản trên chia làm hai. Chúng tôi đã đồng ý và ký thỏa thuận tại tòa, tôi giữ lại 01 lượng vàng cưới 24k, đôi bông, bộ vòng, 500USD và 04 chỉ vàng chia cho chồng.

Nay, nghĩ lại thấy có phần thiệt cho bản thân, tôi muốn kháng án để đòi lại công bằng cho mình thì có được không? Tôi muốn số vàng cưới không chia, vì đó là quà cưới gia đình chồng cho dâu. Tài sản còn lại chia hai hoặc tất cả (vàng cưới, USD, 04 chỉ vàng) chia hai nhưng bông tai phải thuộc quyền sở hữu của tôi, vì trước giờ tôi vẫn đeo nó. Và vấn đề thứ 2 là, nếu tôi không được hưởng trọn số vàng cưới thì căn cứ vào buổi xét xử phân chia và trong biên bản thỏa thuận tại tòa tôi sẽ trả lại cho chồng:  bộ vòng, 500USD, bông tai, 4 chỉ vàng 24k. Nhưng giờ tôi không trả như vậy, mà tất cả tài sản tôi sẽ chia hai, mỗi người 7 chỉ vàng, bộ vòng ciment và 500USD cũng thế. Tôi làm vậy có được không? (chúng tôi sẽ có mặt tại tòa án huyện để trao trả lại tài sản) Rất mong nhận được hồi đáp sớm nhất của luatminhgia.com.vn. Chân thành cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn chị đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, về vấn đề của chị chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định tại điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về chia tài sản chung của vợ chồng:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

>> Tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn, gọi: 1900.6169

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng:

“ 1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Đối với bộ trang sức gia đình chồng tặng cho chị (01 lượng 24k và 01 đôi bông hột xoàn) theo Luật Hôn nhân & Gia đình 2014 tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân sẽ là tài sản riêng, nếu chị chứng minh được số tài sản là nữ trang chị được cha mẹ chồng tặng cho riêng, thì đó là tài sản riêng và không phải chia, nếu không chứng minh được thì Toà án sẽ xác định là tài sản chung và chia cho 2 vợ chồng.

Về 800 USD mà chị chồng của chị tặng cho 2 vợ chồng đây là tặng cho hai vợ chồng nên sẽ xác định là tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên sau đó chồng chị lại lấy 300USD đi mua cho chị bộ vòng ciment. Đây là tài sản mà chị chồng tặng cho 2 vợ chồng chị, vậy nên theo quy định của của Luật HN & GĐ tài sản được tặng cho chung thì xác định đó là tài sản chung của vợ chồng.

Về 4 chỉ vàng 24k,theo thông tin chị cung cấp sau khi thu hoạch lúa chồng chị có đưa cho chị để mua 4 chỉ vàng 24k, vậy đây là tài sản được hình thành trong thời kì hôn nhân, nên 4 chỉ vàng này vẫn thuộc về tài sản chung của vợ chồng.

Một số nguyên tắc về chia tài sản vợ chồng

- Tài sản riêng của vợ, chồng thì thuộc sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo qui định của Luật hôn nhân gia đình. Trong trường hợp của sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về phân chia thì được thanh toán phần giá trị của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

- Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

Bên nào muốn yêu cầu tòa xác định bất kỳ tài sản là của riêng thì có nghĩa vụ phải chứng minh. Nếu không chứng minh được yêu cầu của mình thì xác định đó là tài sản chung.

Vậy trong trường hợp của chị, nếu như chị xác định đâu là tài sản riêng của mình chị phải có căn cứ để chứng minh được đó là tài sản riêng của chị, nếu như chị không chứng minh được thì đó sẽ là tài sản chung và thực hiện chia theo các nguyên tắc ở trên.

Theo thông tin chị cung cấp, chị đã đồng ý và kí vào biên bản thoả thuận tại Toà án, thoả thuận này đã được Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận. Toà án ra quyết định công nhận thoả thuận đó, thì các đương sự không được kháng cáo, Viện kiểm sát không được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; quyết định của Toà án công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Liên hệ tư vấn