LS Vy Huyền

Chuyển nhượng hợp đồng góp vốn mua đất nền thế nào?

Hợp đồng góp vốn là sự thỏa thuận giữa các bên để cùng góp tiền, tài sản,…nhằm thực hiện một công việc nhất định. Nội dung của hợp đồng góp vốn thường do các bên thỏa thuận và đảm bảo những thỏa thuận ấy không trái với các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế các bên có thể vi phạm những thỏa thuận do chính mình đặt ra dẫn đến việc vướng mắc trong quá trình giải quyết sau này. Vậy các bên cần lưu ý những vấn đề gì để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Câu hỏi tư vấn: Năm 2018, tôi có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để mua 01 ô đất dự án với công ty chủ dự án và được nhận 01 hợp đồng góp vốn gốc mang tên tôi. Theo điều khoản hợp đồng nếu không có điều kiện tiếp tục thực hiện hợp đồng góp vốn này thì hợp đồng chỉ được chuyển nhượng 01 lần (phải qua công chứng và có xác nhận đồng ý của công ty, sau đó công ty sẽ lập phụ lục đổi tên người góp vốn mới).

Năm 2019 tôi có chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho chị B và hai bên ra phòng Công chứng được Công chứng viên soạn thảo hợp đồng ủy quyền giữa tôi và bên B trong đó bên B được toàn quyền định đoạt ô đất trên kể cả chuyển nhượng lại cho người khác; thời hạn ủy quyền là 10 năm, ủy quyền không thù lao. Tôi cũng đã đưa bên B hợp đồng góp vốn gốc. Sau đó bên B đã bán cho bên C, bên C lại bán cho bên D (tất cả bằng giấy viết tay, không được công chứng, chứng thực và không có xác nhận của bên công ty chủ dự án). 

Nay 3 bên B, C, D đến trình bày sự việc về việc vướng mắc thủ tục do bên D muốn xây nhà nhưng công ty chủ dự án không cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bên B sang bên D do tôi vẫn là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất. Bên B, C, D muốn nhờ tôi hủy hợp đồng ủy quyền ban đầu và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho D vì nếu tôi hủy ủy quyền ban đầu mà chuyển cho bên B thì bên B không thể tiếp tục chuyển cho bên D thì quyền lợi bên D sẽ bị ảnh hưởng.

Vậy tôi xin hỏi tôi muốn hủy ủy quyền ban đầu và giúp chuyển cho bên D thì có được hay không, cần làm thủ tục gì để tôi hạn chế được tranh chấp rủi ro khi giúp cho bên D theo đề nghị của các bên B, C, D.

1. Hợp đồng mua bán viết tay giữa bên B-C, C- D có giá trị pháp lý hay không?

2. Tôi có thể yêu cầu bên B, C, D lập cam kết về việc bên B chỉ bán duy nhất cho bên C, bên C chỉ bán duy nhất cho D và bên D là người mua cuối cùng và các bên B-C, C-D thỏa thuận cùng nhau hủy hợp đồng mua bán viết tay giữa họ có được hay không?

3. Còn giả sử nếu tôi hủy hợp đồng ủy quyền ban đầu và chuyển cho bên B thì cần thủ tục gì? Xin các luật sư tư vấn giúp.Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Minh Gia, sau khi nghiên cứu trường hợp của bạn chúng tôi đưa ra nội dung tư vấn như sau:

Thứ nhất, Tính hợp pháp của hợp đồng mua bán viết tay giữa B-C, C-D

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

..."

Vậy trong trường hợp này, bạn có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chủ dự án và có điều khoản quy định rằng: “…nếu không có điều kiện tiếp tục thực hiện hợp đồng góp vốn này thì hợp đồng chỉ được chuyển nhượng 01 lần (phải qua công chứng và có xác nhận đồng ý của công ty, sau đó công ty sẽ lập phụ lục đổi tên người góp vốn mới”. Mà bạn đã thực hiện ủy quyền cho B sau đó B chuyển cho C, C chuyển cho D và các bên không hề có ký kết hợp đồng công chứng hay có sự đồng ý của chủ đầu tư dự án. Vì vậy, hợp đồng giữa B-C, C-D không đáp ứng các điều kiện về hình thức khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng hoặc chứng thực và hợp đồng chuyển nhượng giữa B-C, C-D không có giá trị pháp lý.

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 quy định về các trường hợp Tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức 

"Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó...."

Vậy nếu trong trường hợp giao dịch dân sự giữa B-C, C-D bị xác định vô hiệu về hình thức do hợp đồng không được thực hiện việc công chứng, chứng thực mà các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì các bên C, D có thể thực hiện khởi kiện lên Tòa án để yêu cầu công nhận hiệu lực của giao dịch.

Thứ hai, về việc các bên cam kết chỉ bán cho một bên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Việc bạn ghi nhận thỏa thuận rằng: “yêu cầu bên B, C, D lập cam kết về việc bên B chỉ bán duy nhất cho bên C, bên C chỉ bán duy nhất cho D và bên D là người mua cuối cùng và các bên B-C, C-D” thì vẫn được xác định là không phù hợp với  hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà bạn đã ký kết với chủ đầu tư dự án trước đó.

Thứ ba, về việc hủy hợp đồng ủy quyền ban đầu với B để giúp chuyển nhượng vốn góp cho D?

Bạn và người ký kết hợp đồng ủy quyền ban đầu là B có thể thỏa thuận để hủy hợp đồng ủy quyền đã ký kết. Thủ tục hủy hợp đồng ủy quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 51 Luật Công chứng 2014.

Điều 51. Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch

1. Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó.

2. Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.

3. Thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương này.

Vậy để hủy hợp đồng ủy quyền bạn và B là người đã ký kết hợp đồng ủy quyền có thể đến văn phòng công chứng/ phòng công chứng trước đó đã tiến hành công chứng hợp đồng ủy quyền để ủy hợp đồng ủy quyền mà hai bên ký kết. Việc hủy hợp đồng ủy quyền phải được lập thành văn bản và được công chứng. Hủy hợp đồng ủy quyền có hiệu lực từ thời điểm các bên ký vào bản hủy hợp đồng ủy quyền, công chứng viên ký, đóng dấu. Nhân viên công chứng thu hồi lại hợp đồng bị hủy và cũng là thời điểm đánh dấu hợp đồng ủy quyền hết hiệu lực.

Sau khi hủy hợp đồng ủy quyền cho B thì bạn có thể làm hợp đồng chuyển nhượng vốn góp cho D. Khi đó bạn lưu ý rằng những điều khoản thỏa thuận giữa bạn với chủ đầu tư trong hợp đồng góp vốn vẫn sẽ được áp dụng.

Trân trọng!

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Bài viết liên quan
Liên hệ tư vấn