LS Quang Vinh

Chứng minh con ngoài giá thú để hưởng thừa kế?

Quyền nhận cha, mẹ cho con là một trong những quyền trong chế độ hôn nhân gia đình được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Vậy trường hợp con ngoài giá thú có quyền được nhận cha sau khi cha đã chết hay không? Những người thân thiết trong gia đình người cha có được quyền ngăn cản việc xác định cha cho con ngoài giá thú hay không?

Câu hỏi tư vấn: Cha mẹ tôi đăng ký kết hôn năm 1980. Hiện giờ có 4 người con và bà nội. Có tài sản chung là 2 căn nhà gia đình đang ở. Cuối năm 2019, cha mất không để lại di chúc. 4 con và bà nội đang làm thủ tục từ chối nhận di sản để chuyển hết cho mẹ 2 căn nhà. Đầu năm 2020, có 1 phụ nữ dẫn theo con gái (khoảng 12 tuổi) tự xưng là con gái riêng muốn nhận cha, nhận trợ cấp và chia thừa kế. Người này quả quyết rằng họ có bản di chúc của cha (tôi nhớ trong thời gian đó cha tôi đang bị bệnh nặng, lý trí không tỉnh táo lắm. Tôi nghi ngờ người phụ nữ đó cùng với một người đàn ông khác đã ép cha tôi lập di chúc vì thời gian đó bố tôi hay qua nhà người đàn ông đó chơi). Nếu họ muốn nhờ Tòa án để giám định ADN cho con thì gia đình chúng tôi có được quyền ngăn cản không?

Trả lời câu hỏi tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với nội dung bạn yêu cầu tư vấn, Công ty Luật Minh Gia trả lời tư vấn như sau:

Thứ nhất, quy định pháp luật về di chúc hợp pháp:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 về di chúc hợp pháp như sau:

“Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”

Theo quy định trên, để một di chúc hợp pháp cần phải đáp ứng được 02 điều kiện: (i) Chủ thể lập di chúc và (ii) Nội dung, hình thức của di chúc. Về chủ thể, người lập di chúc phải tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và minh mẫn trong khi lập di chúc. Về nội dung, di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp tính mạng bị đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Theo đó, một người phụ nữ đưa ra thông tin họ có bản di chúc của cha bạn thì cần phải xem xét đến thời điểm lập di chúc cha bạn có hoàn toàn tự nguyện, minh mẫn, sáng suốt và nội dung của di chúc không vi phạm điều cấp của luật, không trái đạo đức xã hội hay không? Di chúc không có người làm chứng thì phải do cha bạn tự viết và ký tên vào bản di chúc, trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực thì bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giám định chữ viết, chữ ký. Nếu di chúc của người phụ nữ đó đưa ra mà không đáp ứng được các điều kiện của di chúc hợp pháp thì di chúc đó sẽ bị vô hiệu, không có giá trị pháp lý. Ngược lại, nếu di chúc người phụ nữ đó đưa ra đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của di chúc hợp pháp và bạn không có căn cứ, bằng chứng thuyết phục để chứng minh cha mình bị ép lập di chúc thì di chúc đó sẽ có hiệu lực pháp luật và di sản thừa kế của cha bạn sẽ được phân chia theo di chúc đó.

Về nguyên tắc, việc phân chia di sản thừa kế của người đã chết sẽ tuân theo nội dung của di chúc hợp pháp vì nó thể hiện ý chí định đoạt tài sản của người để lại di sản, nếu không có di chúc thì sẽ phân chia di sản thừa kế theo pháp luật. Con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động, cha, mẹ, vợ, chồng của người chết vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó (khoản 1 Điều 644 BLDS 2015)

Thứ hai, quy định pháp luật về xác định cha cho con:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) 2014 về quyền nhận cha, mẹ như sau:

“Điều 90. Quyền nhận cha, mẹ

1. Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.”

Theo quy định trên, con có quyền nhận cha kể cả trong trường hợp cha đã chết. Đây là một quyền được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Vì vậy, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng không có quyền được ngăn cản việc xác định cha cho con. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha cho con trong trường hợp người được yêu cầu xác định là cha đã chết (khoản 2 Điều 101 Luật HN&GĐ 2014). Theo đó, gia đình chị không có quyền ngăn cản người phụ nữ kia thực hiện thủ tục xác định cha cho con.

Như vậy, có thể kết rằng trường hợp người phụ nữ đưa ra được bản di chúc hợp pháp của cha bạn thì sẽ phân chia di sản thừa kế theo di chúc, những người thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 sẽ vẫn được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Trường hợp di chúc không đáp ứng được các điều kiện của di chúc hợp pháp và con gái của người phụ nữ kia có kết quả xét nghiệm ADN xác định là con của cha bạn thì phần di sản thừa kế của cha bạn (1/2 khối tài sản chung của vợ chồng) sẽ chia theo pháp luật thành 06 phần bằng nhau cho 04 người con, vợ, mẹ và một người con ngoài giá thú.

Hotline: 1900 6169