LS Vy Huyền

Bị đơn cố tình trốn tránh việc phải thi hành án dân sự giải quyết như thế nào?

Luật sư tư vấn về vấn đề: Khởi kiện vụ án dân sự đặt cọc tiền mua bán quyền sử dụng đất và có quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, phía bên bị đơn cố tình trốn tránh không trả tiền sau khi có quyết định của Tòa án giải quyết như thế nào? Có truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với bà B là bị đơn trong vụ án dân sự được không? Giải quyết các vấn đề có liên quan.

 

Nội dung tư vấn: hào Luật sư! Thưa luật sư, vào khoảng tháng 8/2016 bà A hàng xóm vs gia đình em thường xuyên tìm mọi cách tiếp cận để giới thiệu em gái ruột của bà (tức bà B) có lô đất cần bán; vì gia đình khó khăn chưa có nơi ở ổn định nên thuận tình và liên hệ vs bà B để thương lượng cọc tiền kèm hợp đồng viết tay. Gia đình em đã cọc cho bà B 60.000.000 đồng, hứa hẹn ngày 15/01/2017 sẽ giao sổ đỏ cho gia đình em. Nhưng tới hẹn bà B không những chưa giao đc sổ đỏ mà còn tìm đủ lý do để ứng thêm số tiền cọc: 20.000.000 đ +3.500.000 đ (chia làm 2 đợt). Vì thấy có lý, lại muốn nhah gọn nên gia đình em đã đưa thêm cho bà B theo yêu cầu và mỗi lần đưa đều có giấy viết tay đôi bên cùng ký. Sau rất rất nhiều lần hứa hẹn mà bà B vẫn chưa giao đất cho gia đình em và đã vi phạm hợp đồng nên gia đình em đã đưa đơn lên toà để giải quyết dân sự; sau khi hoà giải thì bà B đồng ý thua kiện và toà đã ra quyết định bà B buộc phải trả lại số tiền cọc cộng thêm số tiền lãi theo hợp đồng là 119.000.000 đ. Cho đến giờ phút hiện tại tức 30/12/2018 rồi mà bà A vẫn chưa hề trả cho gia đình  em 1 đồng nào. Thời gian vừa qua gia đình em đã rất nhiều lần liên hệ với bà B thì bà ta luôn tìm đủ mọi cách lừa dối để kéo dài thời gian. Theo cá nhân mới được thông tin biết thì chị em gái gia đình nhà bà B đang nợ tiền bên ngoài rất nhiều. Bản thân cảm thấy bà B có hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và có khả năng phạm tội có tổ chức. Gia đình muốn giải quyết hình sự, làm đơn kiện bà B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Nói thêm là: bên thi hành án họ đi thẩm định thì bà B này hiện k có tài sản, công ty gỗ của bà chỉ là công ty ma.

Hỏi: Luật sư cho em hỏi là gia đình em có thể kiện bà A về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của BLHS:2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Tái phạm nguy hiểm;d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;g) Gây hậu quả nghiêm trọng.Gia đình em rất mong nhờ Luật sư có thể tư vấn giúp em để sự việc có lợi được không ạ. Em chân thành cảm ơn.

 

Trả lời tư vấn: Luật Minh Gia cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn.Với yêu cầu hỗ trợ tư vấn của bạn, Luật Minh Gia tư vấn như sau:

 

Căn cứ theo quy định tại Điều 44 về Xác minh điều kiện thi hành án của Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 như sau:

 

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.

 

Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.

 

2. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

 

3. Cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.

 

4. Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm sau đây:

 

a) Xuất trình thẻ Chấp hành viên;

 

b) Xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án; đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó;

 

c) Trường hợp xác minh bằng văn bản thì văn bản yêu cầu xác minh phải nêu rõ nội dung xác minh và các thông tin cần thiết khác;

 

d) Trường hợp người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức thì Chấp hành viên trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản; xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải thi hành án;

 

đ) Yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường hợp cần thiết;

 

e) Lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh.

 

5. Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

 

Trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.

 

6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án:

 

a) Cơ quan, tổ chức, công chức tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác và cá nhân có liên quan thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp;

 

b) Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; ký vào biên bản trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin về tài khoản thì phải cung cấp ngay;

 

c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

 

7. Trường hợp người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.

 

Căn cứ theo quy định tại Điều 45 về Thời hạn tự nguyện thi hành án của Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 như sau:

 

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.

 

2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.

 

Trường hợp của gia đình bạn, vụ việc đã được giải quyết tại Tòa án dân sự, hiện nay cũng đã có bản án của Tòa và đang trong giai đoạn thi hành án. Bà B không tự nguyện thi hành án mà có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có thể áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án để giải quyết giúp gia đình. Bà B có hành vi không tự nguyện thi hành án dân sự chưa phải là dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự.

 

Trân trọng.
 

Phòng Luật sư tư vấn dân sự - Công ty Luật Minh Gia.

 

Hotline: 1900 6169