Nguyễn Đức Minh Hiếu

Tư vấn về làm giấy khai sinh cho con khi vợ chồng chưa ly hôn

Tôi muốn hỏi về vấn đề làm giấy khai sinh cho con. Con tôi được 11 tháng tuổi và hiện chưa có giấy khai sinh vì tôi chưa nhập khẩu vào gia đình. Ý định của chồng tôi là muốn nhập khẩu cháu ở nơi chồng tôi sống, còn tôi thì muốn đưa cháu về quê ngoại và nhập ở đó.

Câu hỏi tư vấn: Chào luật sư! Tôi muốn hỏi về vấn đề làm giấy khai sinh cho con. Con tôi được 11 tháng tuổi và hiện chưa có giấy khai sinh vì tôi chưa nhập khẩu vào gia đình. Ý định của chồng tôi là muốn nhập khẩu cháu ở nơi chồng tôi sống, còn tôi thì muốn đưa cháu về quê ngoại và nhập ở đó. Hiện tại chồng tôi giữ giấy chứng sinh nhưng vì không có khẩu của tôi nên tư pháp không đồng ý làm giấy khai sinh cho cháu. Vậy tôi muốn hỏi:

Nếu tôi nhờ người làm chứng viết giấy xác nhận việc sinh là có thật mà không trực tiếp đi làm thì người làm chứng (mẹ đẻ tôi) có làm được giấy khai sinh cho cháu không( tôi không được gia đình chồng cho cầm giấy chứng sinh)? Nếu tôi làm được giấy khai sinh và chồng tôi cũng nhờ vả làm được giấy khai sinh cho cháu như vậy liệu cháu có 2 giấy khai sinh không? Tôi muốn ly hôn với chồng tôi nên muốn sửa tên con và lấy họ mẹ, phần điền tên bố tôi sẽ để trống liệu có được không? Nếu con tôi là con riêng của tôi thì tôi làm như trên có được không? Việc chồng tôi muốn tranh chấp quyền nuôi con với tôi có được không? Tôi xin chân thành cảm ơn các luật sư..

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp các thắc mắc của bạn như sau:

 

Thứ nhất, về việc làm giấy khai sinh cho con:

 

Khoản 1 Điều 16 Luật Hộ tịch 2014 quy định về Thủ tục đăng ký khai sinh, như sau:

 

Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.”

 

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp.  Con bạn được sinh ra tại cơ sở y tế, do đó việc người làm chứng viết giấy xác nhận việc sinh là có thật trong trường hợp này là không có giá trị. Trong trường hợp này, để chứng minh việc sinh con trên thực tế tại cơ sở  y tế bạn có thể đến cơ sở y tế xin lại giấy xác nhận chứng sinh.

 

Khi có đủ giấy tờ theo luật định, thì bạn hay bà ngoại của con bạn có thể đi đăng ký khai sinh cho cháu bé. Việc này được quy định tại Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch 2014: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”

 

Thứ hai, có thể có hai giấy khai sinh cho con?

 

Điều 13 Luật hộ tịch 2014 quy định về Thẩm quyền đăng kí khai sinh như sau: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh”. Tuy nhiên, ngoài cha, mẹ của đứa trẻ là người có quyền và trách nhiệm đi khai sinh cho đứa trẻ thì còn có ông, bà hoặc những người thân thích khác.

 

Nếu bạn đã đi khai sinh cho con mình tại Ủy ban nhân dân thị trấn nơi bạn cư trú rồi thì các thông tin khai sinh về con của bạn sẽ được lưu vào Sổ hộ tịch và cập nhật ngay vào Cơ sở lưu trữ hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân. Điều này có nghĩa là Cán bộ hộ tịch thực hiện khai sinh ở xã nơi chồng bạn đi khai sinh phải biết về việc đã tồn tại một bản khai sinh về con của bạn. Do đó, bản khai sinh thứ hai do người anh chồng đi khai sinh cho con của bạn là không hợp pháp.

 

Như vậy, con bạn hay mỗi người chỉ có một giấy khai sinh hợp pháp.

 

Thứ ba, về họ tên của con trên giấy khai sinh:

 

Điểm a Khoản 1 Điều 4 Nghị định Số 123/2015/NĐ-CP quy định: “Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán;”

 

Như vậy, pháp luật cho phép trẻ em sinh ra có thể mang họ của người mẹ, không bắt buộc phải theo họ cha, nhưng vấn đề là cần có sự thỏa thuận của hai bên cha, mẹ. Nếu một bên không đồng ý (ví dụ người cha) thì việc đổi họ rất khó khăn, nếu không nói là không thể thực hiện được.

 

Một trong những nội dung đăng ký khai sinh quy định tại Điều 14 Luật Hộ tịch 2014 là: “Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;”

 

Việc để trống phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh thường áp dụng trong trường hợp khai sinh cho con không xác định được người cha. Theo quy định, chỉ trong trường hợp không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh  và Giấy khai sinh mới được để trống (Khoản 2 điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP).

 

Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc xác định cha, mẹ như sau: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”. Do đó, bạn và chồng bạn chưa ly hôn nên con bạn khi sinh ra có thể xác định là con chung của vợ chồng bạn vì là con sinh ra trong thời kì hôn nhân. Vì vậy, trường hợp này không thể xác định đây là con riêng của bạn.

 

Như vậy, bạn có quyền để tên con theo họ mẹ nếu được sự đồng ý từ phía chồng bạn và  không được để trống phần ghi thông tin về người cha trên giấy khai sinh của con.

 

Thứ tư, tranh chấp quyền nuôi con:

 

Theo như phân tích ở trên, thì cháu bé được xác định là con chung giữa bạn và chồng bạn. Như vậy, chồng bạn có quyền tranh chấp quyền nuôi con với bạn. Và chỉ khi ly hôn mới có thể tranh chấp quyền nuôi con. Theo đó, bạn và chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc nuôi con nhưng nếu hai bên không thể thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, Tòa sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp chăm sóc căn cứ vào quyền lợi trực tiếp của con.

 

Con bạn hiện nay vẫn dưới 36 tháng tuổi nên bạn được ưu tiên quyền nuôi bé nhưng bạn phải chứng minh mình đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bạn phải chứng minh về tài chính, về thời gian, điều kiện chăm sóc con… Tòa sẽ dựa trên tình hình thực tế và lợi ích của con để quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền chăm sóc, thăm nom con và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tới khi con đủ 18 tuổi.

Hotline: 1900 6169