Nông Hồng Nhung

Căn hộ chưa được cấp GCN có thể phân chia khi ly hôn không?

Trong trường hợp mua căn hộ nhưng căn hộ đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thì vợ chồng có thể thỏa thuận phân chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn được không? Luật Minh Gia tư vấn như sau:

Nội dung tư vấn: Chào luật sư! Mình xin được tư vấn vấn đề như sau. Tháng 3/2019 mình và chồng có mua lại căn hộ chung cư, nhưng do bận con nhỏ nên lúc mua thì chỉ có chồng đứng tên trên giấy tờ mua bán. Hiện chưa có sổ hồng. Tháng 7/2019 vợ chồng mình ly hôn tại tòa án thuận tình ly hôn, không yêu cầu toàn án giải quyết tranh chấp về tài sản. Hai vợ chồng có thỏa thuận là mình trả cho chồng 500tr, còn căn hộ chung cư thuộc sở hữu của mình.Vì chưa có sổ Hồng nên giấy tờ mua chung cư đứng tên chồng mình, nên mình chưa chuyển 500tr được, đợi sổ hồng thì không biết đến khi nào mới có để sang tên. Giờ cho mình hỏi có cách nào để chuyển giấy tờ sang tên mình được không? Mong nhận được sự trả lời.

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ thông tin bạn cung cấp, căn hộ là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bạn. Vì vậy, nếu chồng bạn không chứng minh được tài sản này được hình thành từ tài sản riêng của chồng bạn thì căn hộ đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo đó, việc chồng bạn đứng tên trên các giao dịch liên quan đến việc mua căn hộ được xác định là đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp xác lập giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 26. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.”

Như vậy, khi ly hôn, hai vợ chồng bạn có thể yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung vợ chồng hoặc các bên tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, thông tin bạn cung cấp cho thấy căn hộ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; do đó, để có thể đứng tên trên giấy chứng nhận, bạn cần thỏa thuận với chồng bạn về việc phân chia tài sản sau hôn nhân, trên đó xác định đây là tài sản riêng của vợ. Văn bản thỏa thuận đó được gửi đến chủ đầu tư dự án để yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bạn.

Hoặc sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hai vợ chồng bạn lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung vợ chồng có công chứng theo quy định của pháp luật. Sau đó tiến hành thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng 

Phòng Luật sư tư vấn Luật Đất đai - Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí