Trần Diềm Quỳnh

Tội cướp tài sản và tội xâm phạm quyền bí mật đời tư

Tư vấn về cấu thành tội cướp tài sản; tội xâm phạm quyền bí mật đời tư được quy định như thế nào theo quy định của pháp luật?


Nội dung đề nghị tư vấn:
 
Chị A (chị dâu của B) đã bỏ nhà đi 2 ngày do cãi nhau với chồng, 2 ngày sau chị A trở về, chưa rõ lý do như thế nào xông vào đánh chị B (cô em chồng) và lấy điện thoại của chị B, chị B không đánh lại mà chỉ đỡ, sau đó chạy ra ngoài nhờ người giúp. Nhân cơ hội đó chị A tẩu thoát, sau đó chị A đến bệnh viện đi khám thì có giấy khám của Bác sỹ là động thai (chị A đang mang thai 4 tháng) – do chị A tự đập bụng do cãi nhau với chồng từ 2 ngày trước, rồi sau đó đổ tội cho chị B đánh bị động thai. Vụ việc đã qua gần 1 tháng, chị B vẫn có lời nhục mạ, khiêu khích. Chị B muốn báo công an vụ bị đánh và mất điện thoại trị giá gần 5 triệu đồng. Hỏi, chị A sẽ bị xử lý như thế nào? Và chị A còn nhiều lần mua chuộc tổng đài C để biết nội dung cuộc gọi và tin nhắn của người khác. Hỏi, chị B sẽ bị xử lý như thế nào về hành vi này?
  

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia chúng tôi! Trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, đối với hành vi của chị A là đánh chị B và lấy điện thoại trị giá gần 5 triệu đồng của chị B. Trong tình huống chị đưa ra còn chưa cụ thể về tình tiết, nên căn cứ vào tình huống chị đưa ra chúng tôi có thể tạm thời xác định rằng hành vi của chị A có thể cấu thành tội cướp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 168 – Bộ luật Hình sự 2015:

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Như vậy, rất có thể chị A sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Hình sự về tội cướp tài sản với khung hình phạt từ ba năm tù đến mười năm tù.

Thứ hai, đối với hành vi chị A còn nhiều lần mua chuộc tổng đài C để biết nội dung cuộc gọi và tin nhắn của người khác. Trong trường hợp này rất có thể chị A sẽ vi phạm  Điều 38 Bộ Luật Dân sự 2015 về xâm phạm quyền bí mật đời tư của người khác:

Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.

4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Nếu chị A có hành vi sử dụng thông tin thu được từ nội dung các cuộc gọi, tin nhắn của chị B nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị B thì phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc hành chính tương ứng với mức độ thiệt hại mà hành vi gây ra. Chị B có thể khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chị A bồi thường cho những hành vi xâm phạm nêu trên.

Trân trọng!

Phòng luật sư tư vấn – Công ty Luật Minh Gia.

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí