Vũ Thị Thảo

Giải quyết tranh chấp thừa kế về quyền sử dụng đất ?

Nội dung tư vấn: Gia đình em có 5 người anh em: 2 trai và 3 gái. Bố em là cả và sống với ông bà trên miếng đất của ông bà và sinh được 3 người con. Ông mất từ năm 1987 và bà mất từ năm 1991. Trước khi ông bà mất thì các cô các chú cũng đã lập gia đình nên cũng không có di chúc.

Nội dung tư vấn : Chú thứ 2 cũng có đất riêng của ông bà ở chỗ khác. Năm 2003 nhà em được UBND xã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mẹ em. và năm 2004 bố em qua đời. Mấy năm nay các cô chú về đòi chia đất theo tài sản chung của ông bà. Sau nhiều lần hòa giải ở xã và ở huyện không thành. Đến nay em thấy có giấy thu hồi quyền sử dụng đất của UBND huyện theo file đính kèm e cũng không biết lý do thu hồi như vậy có đúng pháp luật không? giờ em phải làm sao mong luật sư tư vấn giúp a. e xin chân thành cảm ơn.

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty Luật Minh Gia. Từ những thông tin bạn cung cấp chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

 

Trường hợp của bạn cần làm rõ thời điểm ông bà bạn còn sống, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ai, cho cá nhân hay cấp chung cho hộ gia đình để xác định mảnh đất đó có phải tài sản chung của hộ hay không.

 

Thứ nhất, nếu xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình:

 

Căn cứ theo Điều 212 BLDS 2015 quy định về tài sản chung của hộ gia đình như sau:

 

Điều 212. Sở hữu chung của các thành viên gia đình

 

1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

 

2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

 

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.

 

Nếu xác định quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình thì phần di sản ông bà bạn để lại là phần sở hữu của ông bà với khối tài sản này.

 

Thứ hai, nếu quyền sử dụng đất do ông (hoặc bà) của bạn đứng tên thì quyền sử dụng mảnh đất đó là di sản thừa kế, nếu không có di chúc thì được chia theo pháp luật.

 

Về thời hiệu khởi kiện về thừa kế, BLDS 2015 Điều 623 quy định như sau:

 

 Điều 623. Thời hiệu thừa kế

 

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

 

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

 

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

 

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

Đồng thời, Công văn 01/GĐ-TANDTC có quy định như sau:

 

“Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự "Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990.”

 

Như vậy, tính đến thời điểm mở thừa kế (1990) đến hiện tại (2018) là 28 năm nên vẫn còn thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

 

Bộ luật dân sự 2015 quy định về chia thừa kế theo pháp luật như sau:

 

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

 

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

 

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

 

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

 

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

 

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thứ hai, về vấn đề thu hồi đất,

 

Điều 16 khoản 1 Luật Đất đai 2013 quy định: 

 

"1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

 

a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

 

b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;

 

c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người."

 

Trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.

 

Căn cứ vào Nghị định 47/2014 NĐ-CP Điều 13 có quy định:

 

“1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 101 và Điều 102 của Luật Đất đai, các Điều 20, 22, 23, 25, 27 và 28 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì được bồi thường về đất.”

 

Như vậy trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng nếu như đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai thì sẽ vẫn được bồi thường về đất. Đối với đất đang có tranh chấp để được bồi thường cần xác định được ai là chủ sở hữu. Do đó cần có sự thỏa thuận về người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để được bồi thường về đất khi bị nhà nước thu hồi.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Giải quyết tranh chấp thừa kế về quyền sử dụng đất ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng

CV Bảo Châu - Công ty Luật Minh Gia

Gọi ngay