LS Vy Huyền

Có đòi lại được mảnh đất đã cho hàng xóm mượn 20 năm không?

Luật sư tư vấn: Gia đình có mảnh đất dài 50m và rộng 50m sử dụng lâu đời từ thời ông cụ, bà cụ để lại cho đến thời bố mẹ sử dụng. Sau đó gia đình đã cho vợ chồng hàng xóm ông M mượn sử dụng đến nay là 20 năm. Nay gia đình muốn khởi kiện đòi lại mảnh đất đó có được không? Giải quyết các vấn đề có liên quan.

Nội dung tư vấn: Chào luật gia! Gia đình tôi có một mảnh đất từ đời ông cụ -bà cụ,ông- bà , cha- mẹ ,dài 50m và rộng 50m do lúc mình nhỏ bố mẹ cho vợ chồng ông M hàng xóm mượn để khai hoang và sử dụng vì mẹ củ ông M  hàng xóm đó làm em gái ruột của mẹ mình nên đã tin tưởng và cho mượn khai hoang và sử dụng được 20 năm nay Năm nay mảnh đất đó cây cuối lớn và nhà tôi  khai hoang sử dụng thì ông M lại không cho chúng tôi sử dụng nữa và ông M nói mảnh đất này ông đã giữ và sử hữu lâu năm nhà tôi không có quyền đòi lại .Chính quyền xã cũng đã xuống đo đạc, giải quyết và nói gia đình tôi không có quyền tranh chấp mảnh này nữa. Vì mảnh đất này là  của gia đinh từ bao đời nay.

Hỏi: Vậy tôi rất muốn công ty có thể tư vấn vài lý do để tôi có  thể kiện và lấy lại được mảnh đất không?

 

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Theo thông tin bạn cung cấp gia đình bạn có một mảnh đất từ đời ông cụ -bà cụ,ông- bà , cha- mẹ  bạn để lại dài 50m và rộng 50m. Sau đó gia đình bạn đã cho vợ chồng ông M hàng xóm mượn để khai hoang và sử dụng mảnh đất được 20 năm nay. Tuy nhiên, bạn không nói rõ bạn có giấy tờ gì để chứng minh về việc mảnh đất này là mảnh đất của gia đình bạn từ thời ông cụ của bạn để lại hay không hoặc có căn cứ gì để chứng minh mảnh đất này gia đình bạn chỉ cho vợ chồng ông M hang xóm muộn để sử dụng hay không, do đó sẽ chia làm hai trường hợp như sau:

 

+ Thứ nhất, nếu bạn có căn cứ chứng minh về việc mảnh đất dài 50m và rộng 50m từ thời ông cụ, bà cụ của bạn để lại và có căn cứ cứ chứng minh về việc gia đình bạn đã cho gia đình vợ chồng hàng xóm mượn đất để sử dụng. 

 

Theo quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mượn tài sản. Cụ thể:

 

 

Điều 494. Hợp đồng mượn tài sản

 

Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.

 

Điều 496. Nghĩa vụ của bên mượn tài sản

 

1. Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.

 

2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.

 

3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.

 

4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.

 

5. Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả.

 

Và Điều 100 Luật đất đai 2013 về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

 

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

 

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

 

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

 

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

 

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

 

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

 

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của chính phủ.

 

Như vậy, trong trường hợp gia đình bạn có một trong các loại giấy tờ theo điều 100 Luật đất đai trên và có hợp đồng cho mượn đất hoặc có xác nhận của bên mượn, người làm chứng thì hiện nay gia đình bạn có căn cứ để đòi lại diện tích đất trên. Đồng thời, trích lục hồ sơ thửa đất từ trước khi cho mượn để làm cơ sở chưng minh.  Để đảm bảo quyền lợi thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án để tiến hành giải quyết kiện đòi tài sản lại (đòi đất) để đảm bảo quyền lợi của mình. Sau khi có phán quyết của Tòa án xác định mảnh đất dài 50m và rộng 50m này là mảnh đất của gia đình bạn thì bạn có thể liên hệ trực tiếp văn phòng đăng ký đất đai thuộc phòng tài nguyên môi trường để làm thủ tục Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

 

Thứ hai, nếu gia đình bạn không có căn cứ chứng minh mảnh đất dài 50m rộng 50m từ thời ông cụ, bà cụ của bạn để lại và không có căn cứ cứ gì chứng minh về việc gia đình bạn đã cho gia đình vợ chồng hàng xóm mượn đất để sử dụng mà gia đình vợ chồng hàng xóm được xác định là sử dụng ổn định lâu dài trên mảnh đất thì gia đình bạn chưa đủ căn cứ để đòi lại mảnh đất dài 50m và rộng 50m mà vợ chồng hàng xóm.

 

Trân trọng.
Phòng Luật sư tư vấn đất đai - Công ty Luật Minh Gia.

Hotline: 1900 6169