Tự ý mua đất nhưng vợ, chồng không biết ly hôn có phải chia không?

Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên vợ/chồng đã tự ý mua tài sản và không cho người còn lại biết thì khi ly hôn có phải chia không?

1. Thế nào là che giấu tài sản đề làm tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân

Tài sản gồm quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm.....hình thành trong thời kỳ hôn nhân từ các nguồn thu nhập hợp pháp như lương, thưởng.. không phải được tặng cho riêng nhưng vợ/chồng giấu (không kê khai), khi ly hôn nếu vợ/chồng chứng minh được tài sản bị che giấu được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì Toà án sẽ chia đôi theo nguyên tắc chung, sau khi xác minh đươc công sức đóng góp của các bên.

2. Pháp luật quy định chi tiết như sau:

Nội dung câu hỏi tư vấn: Chồng tôi công việc không ổn định, là người gia trưởng và giải quyết mọi vấn đề bằng bạo lực. Mọi chi phi sinh hoạt gia đình do tôi đảm nhiệm (tôi là một viên chức Nhà nước).Từ năm 2010 chồng tôi mở cửa hàng kinh doanh gas và cũng có thu nhập tương đối (đấy là anh ta khoe với khách và người thân anh ta) và coi thường đồng lương ít ỏi của tôi, nhưng tôi vẫn phải đảm nhiệm chi phí hầu hết mọi khoản. Anh ta mua đất nhưng không công khai với tôi (sợ phải chia), anh ta bảo tôi không có công trong đó. Chúng tôi có 2 con (1 trai 14 tuổi, 1 gái 4 tuổi). mọi chi phí cho 2 cháu, tôi là người phải chịu trách nhiệm. Do tôi không thể chịu đựng được cách ăn ở cư xử của anh ta với mẹ con tôi. Chúng tôi đã ly thân được 1 năm, 2 con hiện tôi nuôi ăn học. Nay chúng tôi quyết định ly hôn. Tôi Kính xin luât sư cho biết tôi có quyền được tiếp tục nuôi 2 cháu không? Và tài sản mẹ con tôi có được hưởng không ? Tôi phải làm những gì ạ? Rất mong quý luật sư tư vấn sớm giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tới Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

- Thứ nhất, về giành quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Theo quy định Điều 81 của luật hôn nhân gia đình năm 2014 việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

"...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó, các bên có tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi hai con thì các bên đương sự phải chứng minh được điều kiện của mình có thể đáp ứng tốt nhất về mọi mặt cho hai con: Môi trường phát triển, thời gian chăm sóc, điều kiện kinh tế...... Nếu chị chứng minh được mình có thể đảm bảo được quyền lợi tốt nhất cho hai con về mọi mặt so với người bố thì chị có thể sẽ giành quyền trực tiếp nuôi 2 con. Đối với người con 14 tuổi, tòa án sẽ xem xét tới nguyện vọng của đứa trẻ xem cháu muốn ở với ai.

Theo quy định, bên nào là người trực tiếp nuôi con thì bên còn lại sẽ có quyền thăm nom và thực hiện cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng phụ thuộc vào chi phí cơ bản đáp ứng điều kiện cần thiết cho con và khả năng của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

- Thứ hai, về việc chia tài sản chung của hai vợ chồng khi ly hôn

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về  Tài sản chung của vợ chồng

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo nguyên tắc, các tài sản được hình thành trong thời kì hôn nhân thì được coi là tài sản chung trừ trường hợp tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc tài sản được hình thành từ nguồn tài sản riêng.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn, mảnh đất được mua bằng nguồn thu nhập hợp pháp của chồng trong thời kì hôn nhân thì được coi là tài sản chung của hai vợ chồng. Vì vậy, khi ly hôn chị hoàn toàn có quyền yêu cầu mảnh đất này. Theo nguyên tắc tài sản chung sẽ được chia đôi, có tính tới công sức đóng góp của hai bên trong việc tạo lập, duy trì tài sản của hai bên đương sự và một số yếu tố khác.

- Thứ ba, về thủ tục thuận tình ly hôn

Trường hợp hai vợ chồng bạn cùng muốn ly hôn thì hai bên sẽ làm hồ sơ thuận tình như sau:

+ Đơn thuận tình ly hôn;

+ Giấy chứng nhận kết hôn ( bản chính);

+ CMTND ( bản sao chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu ( bản sao chứng thực);

+ Giấy khai sinh của 2 con ( bản sao chứng thực);

+ Giấy tờ chứng minh  tài sản chung của hai vợ chồng ( bản sao chứng thực).

Hồ sơ gửi tới Tòa án nhân dân quận/ huyện nơi vợ hoặc chồng cư trú.

- Quy định mới về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng

Câu hỏi: Bố mẹ tôi hiện tại đang muốn ly hôn do bố tôi ngoại tình.Về vấn đề tài sản do thu nhập thì bố mẹ tôi đã thỏa thuận được rồi.Nhưng bố tôi có 2 cái xe ô tô,mẹ tôi cũng có 2 cái xe máy.Tất nhiên là đăng kí chủ sở hữu thì xe ô tô là của bố tôi,xe máy là của mẹ tôi.Vậy thì ô tô,xe máy có được tính là tài sản chung và cần chia không?Nếu chia thì sẽ chia như thế nào? Đồng thời tôi muốn hỏi nếu đã sắp xếp ổn thỏa việc chia tài sản rồi thì có cần những giấy tờ chứng minh tài sản chung nữa không?

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Gia, nội dung của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân do thu nhập từ hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh thì được coi là tài sản chung trừ trường hợp tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc được hình thành từ giao dịch từ tài sản riêng của mỗi bên.

Nếu 2 chiếc ô tô và 2 chiếc xe máy của bố, mẹ được hình thành trong thời kì hôn nhân thì được coi là tài sản chung của vợ chồng( trừ trường hợp tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng). Khi ly hôn, hai vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản chung. Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung phải được lập bằng văn bản và công chứng/chứng thực. Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung được công chứng/chưng thực này sẽ là cơ sở để chứng minh tài sản của từng bên sau khi phân chia. 

Nếu không thỏa thuận được, hai bên yêu cầu Tòa án nhân dân chia tài sản chung của vợ chồng thì theo nguyên tắc là chia đôi, có tính tới công sức đóng góp của từng bên, yếu tố lỗi ( hành vi ngoại tình, bạo lực gia đình, hoàn cảnh của các bên). Trường hợp này, tòa án sẽ xác định giá trị của tài sản tại thời điểm yêu cầu chia để giải quyết.

Ngược lại, nếu tài sản nào được mua trước khi bố mẹ đăng kí kết hôn với nhau thì đó là tài sản riêng của một bên ( trừ trường hợp sau khi đăng kí kết hôn hai bên có làm văn bản nhập tài sản riêng của một bên thành tài sản chung của hai vợ chồng có công chứng/chưng thực)

Trân trọng.

Liên hệ để được hỗ trợ nhanh nhất

0971.166.169