Trần Tuấn Hùng

Xúc phạm danh dự, nhân phẩm qua mạng xã hội bị xử lý như thế nào?

Nội dung câu hỏi: Năm 2017 tôi có kết hợp kinh doanh chung với 2 người (tôi gọi tạm là chị A, anh B). Nhưng sau khi được 1 tháng, tôi thấy không hợp xin rút cổ phần ra khỏi công ty. 3 người ngồi lại thỏa thuận, 2 người còn lại đồng ý cho sẽ tính toán lời lãi kinh doanh 1 tháng qua rồi sẽ trả lại tôi vốn, nếu lỗ tôi cũng xin chịu và tôi đồng ý chịu trách nhiệm toàn bộ công việc tôi đã làm trong tháng đó.

Họ hẹn tôi đến 31/1/2018 trả lại vốn 50tr, nhưng tôi gọi điện họ hẹn đến 8/2/2018. Đúng ngày đó, tôi đến văn phòng xin nhận lại vốn, nhưng họ lại bảo tôi đợi đến 28 Tết âm lịch. Hôm đó tôi đến thì văn phòng đóng cửa nghỉ Tết rồi. Tôi gọi điện cho anh B, nhưng a không nghe, chỉ có chị A nói với tôi rằng sẽ chuyển lại cho tôi 1/2 số vốn, còn lại qua tết tính tiếp, nhưng chị A còn nói với tôi rằng anh B có ý định không trả lại tiền cho tôi. Tôi đi tìm nhà anh ta nhưng không tìm được. Tôi nhờ 1 người khác gọi điện thì anh ta nghe máy, anh ta bảo người gọi điện là bảo tôi hãy gọi cho anh ta. Lúc đó anh ta nghe máy và nói với tôi: có gì ra tết giải quyết. Tôi không đồng ý. Trong lúc quẫn trí, tôi ức chế và bức xúc không làm chủ được mình, tôi đăng bài lên facebook của tôi và một số trang rao vặt, có đính kèm cả hình ảnh CMT của anh ta cùng với lời đăng như sau"truy tìm 1 giống chó sắp tuyệt chủng...." và số tiền đăng trên fb là 500tr (do tôi đã đánh máy thừa 1 số 0). 30 phút sau anh ta thấy thông tin đó đã chuyển khoản hết cho tôi. Và tôi xóa bài đăng. Nhưng bài đăng trên các trang rao vặt tôi không nhớ nên vẫn còn sót chưa xóa hết. Sáng hôm sau chị A gọi tôi bảo: em xóa hết bài đăng và xin lỗi B nếu không ra Tết B sẽ kiện tôi tội vu khống và sỉ nhục người khác. Tôi bảo răng: em xóa bài rồi, còn 1 số trang em vẫn tìm để xóa hết vì lúc đăng em không nhớ. Sau đó tôi nhắn tin xin lỗi B, nhưng B nhắn lại cho tôi rằng không đơn giản thế giờ cứ thoải mái mà vu khống đi. Tôi không nhắn gì nữa. Và đến bây giờ anh B nhắn tin đòi tôi nhắn xin lỗi trên các trang rao vặt, nếu không anh ta sẽ kiện ra tòa. Tôi xin hỏi nếu tôi bị kiện tôi sẽ bị xử phạt thế nào? Và quy trình của 1 vụ kiện? Hơn nữa hãy tư vấn giúp tôi, làm thế nào để có thể tránh được vụ kiện.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau :

Thứ nhất nếu bị kiện thì bạn bị xử lý như thế nào?

Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín:

"1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại."

Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015, một cá nhân có quyền bảo vệ về nhân phẩm, danh dự, uy tín như vậy nếu có hành vi xúc phạm đến nhân phẩm danh dự của người khác và người đó yêu cầu lên Tòa án để giải quyết thì bạn sẽ phải gỡ bỏ toàn bộ thông tin đưa thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại thực tế xảy ra.

 

Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về trật tự công cộng:

"1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;"

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Nghị định 167/2013, thì hành vi của bạn còn bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo hay phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Ngoài ra bạn có thể tham khảo quy định về tội vu khống Bộ luật hình sự năm 2015:

 

Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội vu khống:

"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt  tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền."

Trường hợp cố ý viết sai số tiền còn thiếu và mục đích của việc bịa đặt là nhằm xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm và danh dự của người đó thì hành vi này cấu thành tội vu khống. Bạn viết thừa một số 0 nhưng nếu không cố ý xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm và danh dự của người thiếu tiền bạn thì hành vi này không cấu thành tội vu khống.

Để tránh những tranh chấp sẽ xảy ra thì bạn thực hiện việc xin lỗi trực tiếp và thực hiện việc xin lỗi, đính chính thông tin trên những trang mà trước đây bạn đã đăng tải thông tin về vụ việc này. Trên cơ sở thiện chí của mình, bạn có thể thương lượng, thỏa thuận với họ để giải hòa.

Thứ hai, quy trình của một vụ kiện.

Trường hợp thứ nhất người đó yêu cầu lên Tòa án để giải quyết thì vụ việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

- Sau khi nhận đơn thì Tòa án nhận đơn và xử lý đơn yêu cầu (trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn);

- Thông báo thụ lý đơn yêu cầu nếu không thuộc các trường hợp phải trả lại đơn (trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu);

 - Chuẩn bị xét đơn yêu cầu ( trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu);

- Tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự;

- Tòa án đưa ra quyết định giải quyết việc dân sự.

Đối với trường hợp có kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự thì Tòa án nhận kháng cáo, kháng nghị và chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị, sau đó tiến hành phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.  Cuối cùng hội đồng phúc thẩm sẽ ra một trong các quyết định:

- Giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm;

- Sửa quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm;

-  Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ việc dân sự cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;

- Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự;

- Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị.

Trường hợp thứ hai người đó gửi đơn tố giác tội phạm ra cơ quan công an thì quy trình của một vụ việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự năm 2015:

Một là giai đoạn khởi tố (thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm)

Hai là giai đoạn điều tra vụ án hình sự ( Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

 Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

-  Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

 - Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

-  Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

-  Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

-  Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

- Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.)

Ba là giai đoạn truy tố (Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra)

Bốn là giai đoạn xét xử sơ thẩm  (Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án)

Năm là giai đoạn xét xử phúc thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị (Thời hạn xét xử: Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày; Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.)

Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án).

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

CV : Nông Diệp - Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169