LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Trường hợp không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được coi là vợ chồng

Luật sư tư vấn về việc chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn nhưng vẫn được thừa nhận là vợ chồng. Khi nào thì trường hợp đó xảy ra? Quy định của pháp luật về vấn đề này như thế nào? Nội dung hỏi và trả lời tư vấn như sau:

1. Khi nào thì ​không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được coi là vợ chồng?

Câu hỏi: Chào luật sư, Tôi và chồng đang chung sống với nhau nhưng bố chồng tôi có lên nhà tôi và bắt chồng tôi phải chuyển về nhà ông bà không cho ở nhà tôi nữa. Sau đó, chồng tôi và tôi có xảy ra cãi vã. Chồng tôi đã xông vào định đánh tôi. Tôi muốn hỏi rằng nếu tôi không có giấy đăng kí kết hôn và chúng tôi có thể coi là vợ chồng không? Tội xin chân thành cảm ơn.

khong-dang-ky-ket-hon-jpg-12052014072408-U1.jpg

Luật sư tư vấn về việc không đăng ký nhưng vẫn là vợ chồng, liên hệ: 1900.6169

Trả lời: Chào chị, cảm ơn chị đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Minh Gia, trường hợp chị hỏi chúng tôi tư vấn như sau:

Do thông tin chị cung cấp còn sơ sài nên chúng tôi không nắm được thời điểm cụ thể mà anh chị chung sống với nhau. Do đó, chúng tôi tạm chia làm hai trường hợp để chị tiện theo dõi:

1. Nếu thời điểm anh chị chung sống với nhau trước ngày 3/1/1987

Trường hợp này, theo quy định tại Nghị Định số  77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001  Quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì dù không có đăng kí kết hôn, hai bạn vẫn được xác định là vợ chồng hợp pháp.

2. Nếu thời điểm hai bạn chung sống với nhau sau ngày 3/1/1987

Trường hợp này, đến thời điểm hiện tại mà không có đăng kí kết hôn thì hai bạn không được coi là vợ chồng hợp pháp. Tuy nhiên, vì hai bạn đã có con chung, được gia đình hai bên thừa nhận nên khi không muốn tiếp tục chung sống với nhau nữa, bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng.

----

2. Tài sản thừa kế là tài sản chung hay riêng?

Câu hỏi: Xin chào luật sư, xin luật sư tư vấn cho tôi trường hợp như sau:Ông ngoại tôi mất để lại cho mẹ tôi 7000m2 đất (chỉ 1 mình mẹ tôi đứng tên trên sổ đỏ). Hai năm trước mẹ tôi đột ngột qua đời không có di chúc. Hiện tại ba tôi đã già yếu nên muốn chia lại đất cho các con. Vậy theo pháp luật thì phân chia như thế nào là hợp lý , có thể phân chia theo thừa  kế từ mẹ hay không ?( tôi và em gái tôi chưa có gia đình, chị 2 tôi đã có gd và có 1 con trai nhưng hiện tại đang li thân) . Phần của chị tôi có thể nào đứng tên 1 mình chị tôi mà không có tên anh rể được không? Xin cảm ơn tư vấn của luật sư !

Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi đã tư vấn một số trường hợp tương tự thông qua một hoặc một số bài viết cụ thể sau đây: 

>> Thủ tục công chứng khai nhận di sản thừa kế không có di chúc

>> Cách chia di sản thừa kế khi không có di chúc

Theo thông tin anh cung cấp thì quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do ông ngoại để lại cho mẹ anh, sổ đỏ cũng mang tên mình mẹ anh. Do đó xác định đây là tài sản riêng của mẹ anh. Khi mẹ anh mất, tài sản được xác định là di sản thừa kế do mẹ anh để lại và sẽ được chia đều cho tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của mẹ anh theo Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 bao gồm: "a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết".

Trường hợp gia đình thỏa thuận được về việc phân chia di sản thừa kế thì có thể làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại văn phòng công chứng. 
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng".

Như vậy, đối với tài sản được thừa kế riêng nếu không có thỏa thuận khác thì sẽ được xác định là tài sản riêng của người chị.

>> Luật sư tư vấn thắc mắc về việc chung sống không có đăng ký kết hôn, gọi: 1900.6169

3. Tư vấn trường hợp chưa đăng ký kết hôn có quyền ly hôn không?

Câu hỏi: Văn phòng luật sư cho em hỏi ạ: em gái em sinh năm 1997 lấy chồng được 1năm đã có 1 bé trai 6 tháng tuổi nhưng mà 2 vợ chồng chưa đăng kí kết hôn.

Hiện tại  2 vợ chồng có xích mích và chồng em gái em luôn có ý định đuổi vợ đi với gần đây có đánh vợ. Về phần em gái em thì cũng muốn li dị nhưng mà chồng không cho mang  cháu bé đi. Vậy nếu bây giờ kiện ra tòa thì ai được quyền nuôi con và phải nộp đơn kiện ở đâu ạ. Còn về phần em  gái em thì chưa có công việc ổn định. Vậy có ảnh hưởng gì đến kết quả phiên tòa không  ạ. em xin cảm ơn ạ!!!

Trả lời: Cám ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Gia, với yêu cầu của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo như bạn trình bày em gái bạn đã lấy chồng được 1 năm, có 1 bé trai 6 tháng tuổi nhưng chưa đăng ký kết hôn. Vì hai bên thường xảy ra xích mích và người chồng có hành vi đuổi em bạn ra khỏi nhà nên em gái bạn không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Đối với trường hợp này vì em gái bạn chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn nên quan hệ giữa em gái và chồng không được thừa nhận là quan hệ vợ chồng theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong trường hợp hai bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà nay không muốn tiếp tục chung sống với nhau và có tranh chấp về tài sản, quyền nuôi con  thì một trong hai bên có quyền gửi đơn yêu cầu lên tòa án nhân dân quận, huyện nơi em bạn cư trú để được giải quyết. Cụ thể:

Điều 53 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định trường hợp hai bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng có yêu cầu ly hôn thì tòa án thụ lý và tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng, trường hợp hai bên có tranh chấp về tài sản và quyền nuôi con thì giải quyết theo luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 điều 81 luật hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:“ Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Như vậy, trong trường hợp của em bạn vì con trai của em bạn vừa được 6 tháng tuổi nên theo quy định của pháp luật con sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn liên hệ luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến để được giải đáp.