Châu Thị Tú Hảo

Tội cho vay nặng lãi cấu thành khi nào?

Tôi có hỏi mượn tiền của một vài người để cho người khác mượn lại nhằm kiếm chênh lệch lãi suất. Vì tôi là người có uy tín nên khi mượn chỉ nói có chuyện cần xài và ghi giấy nhận nợ cũng chỉ ghi số tiền và ngày trả chứ không nói mục đích mượn tiền (mặc dù các chủ nợ vẫn biết tôi mượn để cho mượn lại).

 
Nay do tôi bị người ta dựt và bỏ trốn nên mất khả năng thanh toán lại cho chủ nợ của tôi. Tôi đã gặp các chủ nợ để năn nỉ ngưng lãi và cho thời gian để bán tài sản (đất đai, nhà cửa) để trả nợ.Tôi không bỏ trốn và rất có thiện chí trả nợ. Tôi đã có bán được một số tài sản để trả bớt cho một vài người. Tuy nhiên do đất đai khó bán mà gán nợ cũng không được vì số nợ của 1 chủ nợ ít hơn giá trị tài sản của tôi nhiều và các chủ nợ cũng không chịu bỏ thêm tiền để mua lại tài sản của tôi. Khi mượn tiền chỉ có tôi ký tên và vợ tôi không hay biết chuyện này cho đến khi đỗ bể. Do tài sản của hai vợ chồng nên vợ tôi không đồng ý trả hết tiền bán tài sản mà phải chia đôi để giữ lại phần của cô ấy. Vì các chủ nợ đang gây áp lực buộc tôi phải trả nhanh nhưng tôi không thể trả ngay được nên đang rất rối trí và muốn ra công an trình báo trước. Trong trường hợp các chủ nợ thưa tôi thì tôi có phạm tội hình sự không?
 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Theo thông tin bạn cung cấp chúng tôi xác định bạn có quan hệ vay mượn tiền với một số đối tượng. Đến nay, bạn mất khả năng trả nợ do đó bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau:

 

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

 

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

…”

 

Như vậy, nếu sau khi vay tiền bạn có thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc bạn có khả năng trả nợ nhưng cố tình không trả hoặc bạn sử dụng tài sản vay đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không còn khả năng trả nợ thì hành vi này của bạn sẽ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã nêu trên. Nếu bạn không thuộc các trường hợp này thì đây chỉ là quan hệ vay mượn dân sự và bên cho vay nếu muốn lấy lại các tài sản đã cho vay thì phải làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân yêu cầu giải quyết.

 

Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:

 

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm…”

 

Do bạn không cung cấp thông tin bạn cho bên vay lại vay với mức lãi suất bao nhiêu do đó chúng tôi chưa xác định được bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự hay không.

 

Hiện nay, mức lãi suất chuẩn pháp luật cho phép các cá nhân cho nhau vay đó là 1,67%/ tháng và 20%/năm. Do đó, nếu bạn cho vay với mức lãi suất vượt quá 5 lần trở lên của mức 1,67% và đã thu lợi từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng thì có căn cứ để truy cứu trách nhiệm với bạn về tội cho vay lãi nặng.

 

Trân trọng!

Phòng luật sư tư vấn - Công ty Luật Minh Gia

TƯ VẤN NHANH