LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua môi giới

Vợ tôi muốn sang Singapore làm việc nên đã nhờ môi giới tên A giúp đỡ chúng tôi đã chuyển số tiền 5.500USD (126.500.000vnd) nhưng hiện tại môi giới chỉ trả lại cho chúng tôi 95 triệu, tức còn 31.500.000 vnd. Môi giới A nói số tiền còn lại đã trừ vào các chi phí cần thiết trong quá trình xin việc. Môi giới A hiện đang sống tại Malaysia. Hành vi của A có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Tôi phải làm gì để lấy lại tiền?

 

Nội dung câu hỏi: Kính gửi Luật minh gia Tôi hiện đang sinh sống và làm việc tại singapore Tôi có có câu hỏi mong luật minh gia giúp đỡ. Nội dung: vợ tôi muốn sang Singapore làm việc nên đã nhờ môi giới tên A giúp đỡ chúng tôi đã chuyển số tiền 5.500USD (126.500.000vnd) nhưng hiện tại môi giới chỉ trả lại cho chúng tôi 95 triệu, tức còn 31.500.000 vnd. Số tiền đó chúng tôi đưa tay cũng không viết giấy biên nhận. Môi giới A nói số tiền đó đã trừ hết của chúng tôi và không đưa ra cụ thể chi phí gì. Môi giới A hiện tại đang sống tại Malaises, công việc của vợ tôi cũng không xin được. Vậy xin hỏi Luật Minh Gia đó có phải lừa đảo và làm sao chúng tôi có thể kiện bà oanh ra pháp luật hoặc lấy lại được số tiền đó. Mong Luật Minh Gia giúp đỡ. Chúng tôi vô cùng cảm ơn.

 

Trả lời tư vấn: Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cần tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với thắc mắc của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

 

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

...

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

 

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

 

Như vậy, để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải có hành vi lừa đảo, đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản. Với những thông tin mà bạn đưa ra chúng tôi chưa thể xác định được chị A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không. Nếu ngay từ đầu chị A không có khả năng xin việc cho vợ bạn nhưng vẫn đưa ra những thông tin gian dối về việc có thể xin được việc để vợ chồng bạn tin tưởng và giao tiền, sau đó chị A bỏ trốn, vợ chồng bạn không liên lạc được thì hành vi của chị A có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi đó bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan Công an. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn chị A đã hoàn trả 95 triệu chỉ còn lại 31.500.000 là không hoàn trả với lí do đã thanh toán các chi phí do đó không thể khẳng định chị A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp này.

 

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật Việt Nam hành vi đưa tiền để xin việc là hành vi không được pháp luật công nhận do đó trường hợp này sẽ được coi là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Chị A có trách nhiệm hoàn trả lại cho vợ chồng bạn toàn bộ số tiền đã nhận. Nếu chị A không trả lại số tiền bạn có quyền làm đơn khởi kiện và gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị A đăng ký thường trú cuối cùng trước khi sang nước ngoài làm việc. Khi nộp đơn bạn cần cung cấp cho Tòa án các chứng cứ chứng minh bạn có đưa tiền cho chị A và chị A chưa trả lại toàn bộ số tiền cho bạn đồng thời bạn phải cung cấp địa chỉ cụ thể của chị A tại nước ngoài để Tòa án tiến hành thủ tục Ủy thác tư pháp để giải quyết.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.
CV tư vấn: Nguyễn Nhàn - Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169