Trần Tuấn Hùng

Tiền lương ngừng việc và trách nhiệm bàn giao công việc của người lao động khi nghỉ việc

Tư vấn về vấn đề tiền lương công ty phải trả trong những ngày ngừng việc và việc thực hiện bàn giao công việc khi nghỉ việc theo hợp đồng lao động hoặc theo nội quy của công ty.

 

Nội dung câu hỏi: Chào Luật sư , em có câu hỏi này mong luật sư tư vấn giúp em với ạ. Em làm kế toán và có ký hợp đồng lao động với công ty thời hạn 1 năm (1/10/2017 - 31/10/2018). Thời gian từ ngày 21/9/2017 công ty có cho em tạm nghỉ việc vì công ty tạm ngưng hoạt động để chuyển địa điểm kinh doanh ạ. Đến ngày 16/1/2018 công ty có hỏi em khi nào vào làm việc lại thì em thông báo với công ty là xin nghỉ việc vì giờ em đang xin đi học việc (em chưa viết đơn xin nghỉ vì em đang ở quê). Trong thời gian nghỉ thì công ty có nói sẽ hỗ trợ lương cho nhân viên, nhưng đến khi em xin nghỉ thì công ty bảo chỉ trả lương cho những người quay lại làm chứ công ty không trả lương cho những ai nghỉ luôn. Luật sư cho em hỏi công ty làm như vậy có đúng không ạ? Và công ty yêu cầu em quay lại để bàn giao hồ sơ, vì lúc em nghỉ thì hồ sơ đã đóng thùng và niêm phong lại rồi. Nhưng vì đang học việc ở quê nên em không vào được nên em bảo sẽ gửi số liệu qua mail cho công ty, còn hồ sơ em không giữ và đã đóng thùng hết rồi. Công ty không chịu và có nhờ người đến nhà em nói chuyện, nói em là biển thủ công quỹ, (trước khi về tiền em đã giao lại cho giám đốc rồi ạ với số tiền hơn 1 triệu kèm bảng báo cáo thu chi của công ty đến lúc em xin về quê ạ) bảo nếu em không vào sẽ làm khó khăn và trình lên công an. Luật sư cho em hỏi như vậy thì em có bị sao nếu như không vào không ạ? Em rất mong nhận được sự phản hồi từ luật sư.Em xin chân thành cảm ơn!

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Thứ nhất về vấn đề tiền lương trong những ngày ngừng việc.

 

Điều 98 Bộ luật lao động 2012 quy định về tiền lương ngừng việc:

 

“Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

 

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương;

 

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

 

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.”

 

Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật năm 2012, trường hợp của bạn công ty chuyển địa điểm và cho bạn ngừng việc thì trong những ngày ngừng việc bạn được trả tiền lương. Công ty không trả lương ngừng việc cho bạn vì lý do bạn chấm dứt hợp đồng lao động sau thời gian ngừng việc là không đúng với quy định về tiền lương ngừng việc.

 

Thứ hai, việc bạn không thực hiện bàn giao công việc cho công ty thì có vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật không?

 

Khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

 

"2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày."

 

Bộ luật lao động năm 2012 không có quy định cụ thể về nghĩa vụ bàn giao công việc của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, khoản 2 điều 42 Bộ luật lao động 2012 quy định khi chấm dứt HĐLĐ trong thời hạn 7 tới 30 ngày hai bên có trách nhiệm thanh toàn đầy đủ các khoản liên quan tới quyền lợi mỗi bên. Việc bàn giao công việc liên quan tới quyền lợi của công ty nên khi công ty yêu cầu thì bạn có trách nhiệm bàn giao công việc mà mình đang phụ trách cho họ. Nếu không thực hiện mà gây thiệt hại thi bạn phải bồi thường thiệt hại. Nếu bạn không có hành vi vụ lợi cá nhân thì không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự trong trường hợp này. 

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng.

CV: Nông Diệp - Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169