Trần Tuấn Hùng

Nếu hợp đồng vay không ghi tiền lãi thì có phải trả lãi không?

Tư vấn về trường hợp vay tiền và không thỏa thuận về lãi trong hợp đồng vay nhưng trên thực tế bên vay lại thực hiện việc trả lãi, khi khởi kiện thì trách nhiệm của hai bên như thế nào?

 

Nội dung câu hỏi: Tôi có một người bạn tên T. T có vay 300tr của bà P (bà P là một công chức nhà nước). Với khoản vay đó, mỗi tháng T phải đóng lãi suất 21tr một tháng cho bà P. Khi T vay tiền của bà P có làm giấy tay với nội dung bà P cho T vay để làm ăn ( không ghi lãi suất, không thế chấp ) và khi nào bà P cần thì T phải hoàn trả. Nay T không đủ khả năng đóng lãi hàng tháng nữa, T xin bà P trả dần nợ gốc nhưng bà P không đồng ý, đòi kiện T ra tòa. Vậy cho tôi hỏi là nếu ra tòa thì T và bà P sẽ như thế nào?

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Nếu P khởi kiện ra Tòa thì trách nhiệm của T và P như thế nào?

 

Thứ nhất, đối với P là người cho vay.

 

Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về lãi suất:

 

”1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

 

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

 

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

 

Như vậy lãi suất nhà nước cho phép các bên thỏa thuận là 20%/năm tương ứng với khoảng 1,67%/tháng. Theo thông tin mà bạn cung cấp thì mặc dù không có thỏa thuận về lãi trong hợp đồng nhưng nếu thực tế bên vay phải trả lãi là 21 triệu/tháng thì đây vẫn được xác định là hai bên đã thỏa thuận về lãi đối với hợp đồng vay trên. Như vậy với khoản tiền lãi là 21 triệu đồng/tháng thì tương ứng với 7%/tháng thì số tiền lãi trên chưa gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất trong quy định của bộ luật dân sự và nếu T mới chỉ trả lãi một tháng là 21 triệu thì số tiền thu lợi bất chính cũng chưa đến 30 triệu nên với thông tin mà bạn đưa ra thì việc cho vay của P vẫn chưa cấu thành tội theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

 

"1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

 

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

 

Trường hợp đến hạn mà T không trả được khoản vay và P khởi kiện ra Tòa án nhân dân thì mức lãi suất sẽ được điều chỉnh xuống mức lãi suất nhà nước cho phép thỏa thuận.

 

Thứ hai, đối với T là người vay.

 

Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

 

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

 

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác..."

 

Nếu T không có khả năng trả lãi và chậm trả lãi thì P có thể yêu cầu T trả lãi theo đúng quy định pháp luật, nếu hết thời hạn trả tiền mà T vẫn không trả được cả gốc và lãi thì P có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân nơi T đang cư trú để được giải quyết. Nếu P và T đã thỏa thuận về việc vay có lãi khác với trong hợp đồng thì thỏa thuận này vẫn được công nhận.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.
CV: Nông Diệp - Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169