LS Trần Khánh Thương

Mượn tiền bỏ đi nước ngoài đòi lại thế nào?

Hiện nay tình trạng lợi dụng lòng tin để vay mượn tài sản của người khác để trục lợi sau đó cố tình không trả, hay sử dụng tài sản vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng chi trả đang diễn ra khá phổ biến. Vậy trường hợp này, người vay phải chịu trách nhiệm trước pháp luật như thế nào? Bạn đọc có thể tham khảo bài viết dưới đây của Luật Minh Gia.

 

Câu hỏi tư vấn: Kính gửi Luật Minh gia! Dạ luật sư cho em hỏi: Trước đây tôi có cho 1 người quen mượn tiền, từ năm 2019 đến 2020, số tiền mượn nhiều lần, gom trọn lại là 300tr, có ghi chép lại bằng giấy tờ mỗi ng giữ 1 bản. Có tin nhắn nói chuyện lưu lại, tiền không hề có lãi. Sau nhiều lần đòi nợ mà không trả thì ngày 01/11/2021 họ trả 15 triệu đồng, số tiền còn lại họ cam kết góp mỗi ngày 500 nghìn đồng cho đến khi nào hết nợ. Nhưng đến ngày 26/11/2021 người ấy đã sang Mỹ, và nghe nói sẽ định cư bên Mỹ. Mà không hề trả tôi tiền như đã cam kết, mà còn chặn mọi liên lạc của tôi, không cung cấp thông tin địa chỉ. Mong luật sư tư vấn giúp tôi.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Minh Gia, với nội dung vụ việc của bạn, Luật Minh Gia tư vấn như sau:

1. Hành vi mượn tiền rồi đi nước ngoài của người vay có phạm tội?

Căn cứ quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về Tội lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

..."

Trường hợp của anh/chị, người vay có dấu hiệu vi phạm nghĩa vụ trả nợ và có dấu hiệu gian dối, bỏ trốn để không phải trả nợ, điều này thể hiện ở việc ngày 01/11/2021 họ hứa hẹn, cam kết trả nợ dần (mỗi ngày 500 nghìn đồng), tuy nhiên chỉ một thời gian ngắn sau đó (ngày 26/11/2021), họ đã sang nước ngoài và chặn mọi liên lạc với anh. Việc họ hứa hẹn, đưa ra cam kết trả nợ, cố tình che giấu thông tin sẽ ra nước ngoài định cư, không thực hiện việc trả nợ chặn mọi liên lạc, không cung cấp thông tin địa chỉ có dấu hiệu của việc bỏ trốn để không phải trả nợ. Hành vi này có thể bị truy cứu trách nghiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật hình sự 2015.

Theo quy định tại Điều 2 khoản 7 Luật Quốc tịch Việt Nam, quy định: “Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ của nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người đó”

Trường hợp này người vay tiền nếu thực chất có hành vi bỏ trốn ra nước ngoài thì cơ quan tiến hành tố tụng phải truy nã và dẫn độ đối tượng về nước. Anh/chị có thể nộp đơn tố giác tội cho cơ quan công an xã phường thị trấn nơi anh chị sinh sống làm việc hoặc nơi người bị tố giác đang sinh sống và làm việc.

2. Trường hợp không đủ chứng cứ chứng minh tội phạm?

Trường hợp trong quá trình điều tra, không đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người vay thì anh/chị có quyền khởi kiện ra tòa án để yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ. 

Căn cứ quy định tại Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì: Những tranh chấp dân sự mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cho tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh. Anh/chị có thể nộp đơn khởi kiện kèm các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình đến tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người vay cư trú trước khi ra nước ngoài để yêu cầu giải quyết. 

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện (hợp đồng, giấy tờ vay tiền,...)

- CMND của người khởi kiện;

- Giấy tờ chứng minh nơi cư trú của người bị kiện.

Hotline: 1900 6169