LS Vũ Thảo

Hỏi về tiền lương tính trợ cấp thôi việc

Xin chào Luật sư, Tôi muốn hỏi Luật sư về Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc cho NLĐ Công ty tôi có NLĐ làm việc từ 1/10/2005 đến 13/2/2012, đến ngày 14/2/2012 bạn ấy được cử đi học Thạc sỹ tại nước ngoài cho đến 31/3/2013.

 

Từ 1/4/2013 bạn ấy không quay trở lại làm việc nữa đến 10/2014 bạn ấy làm đơn xin chấm dứt HĐLĐ với Công ty kể từ ngày 1/4/2013 Hiện nay, tôi đang làm thủ tục chấm dứt và chi trả trợ cấp cho bạn ấy, tuy nhiên vì mức tiền lương làm căn cứ chi trả trợ cấp cho bạn ấy thay đổi rất nhiều, nên tôi đang không biết phải lấy mức tiền lương như thế nào để tính trợ cấp cho bạn ấy. Tôi mong muốn được Luật sư giải đáp dùm 2 điều như sau:

1. Thời gian chấm dứt HĐLĐ ghi trong quyết định giữa Công ty tôi với bạn ấy là từ ngày 01/4/2013 hay là thời điểm hiện tại 30/5/2016?

2. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc sẽ lấy từ thời điểm 1/4/2013 hay là hiện tại (vì mức lương tối thiểu và lương chức danh để làm căn cứ thôi việc trong HĐLĐ đã thay đổi rất nhiều ). Rất mong nhận được phản hồi sớm của Luật sư ạ

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, về chấm dứt hợp đồng lao động

 

Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động, gồm có:

 

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

 

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

 

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

 

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

 

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

 

6. Người lao động chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

 

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

 

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

 

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

 

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

 

Người lao động tự ý nghỉ việc từ 1/4/2013 đến tháng 10/2014 là đã vi phạm những quy định trong hợp đồng lao động. Trong khoản thời gian này, người lao động bỏ việc mà không có lý do chính đáng. Do đó, người sử dụng lao động có quyền ra quyết định sa thải người lao động.

 

Điều 126 Bộ luật lao động năm 2012 quy định việc áp dụng hình thức xử lý kỉ luật sa thải:

 

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

 

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

 

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thòi gian chưa xóa kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

 

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

 

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

 

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

 

Thời gian chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động kể từ ngày người sử dụng lao động gửi quyết định sa thải cho người lao động.

 

Thứ hai, về tiền lương tính trợ cấp thôi việc.

 

Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 quy định Trợ cấp thôi việc:

 

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nừa tháng tiền lương.

 

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

 

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

 

Tuy nhiên, trong trường hợp này, người lao động tự ý nghỉ việc mà không có lý do chính đáng là cơ sở để người sử dụng ra quyết định sa thải. Người lao động bị sa thải, hợp đồng lao động chấm dứt do lỗi của người lao động. Do vậy, người lao động sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Hỏi về tiền lương tính trợ cấp thôi việc. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng!

CV Trịnh Hoa - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900 6169