LS Nguyễn Mạnh Tuấn

Hỏi tư vấn nhằm trì hoãn việc ly hôn

Nội dung đề nghị tư vấn: Chào Luật Minh Gia tôi muốn hỏi trường hợp của tôi nhằm trì hoãn việc ly hôn khi vợ tôi đã nộp đơn ly hôn đơn phương, nội dung như sau:

Hiện vợ chồng tôi sống với nhau được 7 năm. Cách đây 1 tháng vợ tôi giận tôi thì gặp được 1 người quen, người đó đã dụ vợ tôi quan hệ và rót mật nhiều lần. Còn về xúi vợ tôi làm li dị. Tôi biết vợ tôi chỉ ham mê nhất thời, vì hiện tại 2 vợ chồng tôi có với nhau 2 con chung và 1 đứa con riêng của vợ tôi. Tôi nuôi con riêng của vợ từ thời con 1 tuôi, bé rất thương tôi. May tôi muốn trì hoãn việc li hôn vì tôi không muốn vợ tôi vì 1 lúc nhất thời mà sai lầm các con phải khổ. Hiện tại 3 đứa con tôi 1 cháu 6 tuổi, 1 cháu 7 tuổi, 1 cháu 11 tuổi. cháu 6 tuổi và 7 tuổi do tôi nuôi, còn cháu 11 tuổi do bà ngoại nuôi.

Xin luật sư tư vấn cho tôi cách trì hoãn vì tôi biết người đó quan hệ với vợ tôi chẳng qua là lợi dụng, và vợ tôi thì 1 lúc đam mê nhât thời mà thôi. Vợ tôi đang nộp đơn li hôn đơn phương. Tôi muốn xin trì hoãn 2 năm để vợ tôi suy nghĩ được không?

tri-hoan-viec-ly-hon-jpg-12112014032125-U1.jpg

>> Luật sư tư vấn thắc mắc về ly hôn và thủ tục liên quan, gọi: 1900.6169

Trả lời: Công ty Luật Minh Gia trả lời bạn như sau:

Chúng tôi không thể tư vấn cho bạn cách để trì hoãn việc ly hôn tại tòa, vì khi vợ bạn đã nộp đơn ly hôn đơn phương tại tòa án thì tòa án sẽ chịu trách nhiệm giải quyết.

Tuy nhiên, để cứu vãn lại cuộc hôn nhân đổ vỡ mà anh nói là do 1 lúc nhất thời sai lầm của vợ thì tại phiên hòa giải anh nên trình bày quan điểm với thẩm phán.

Thứ nhất: Tình cảm vợ chồng còn hay hết

Thứ hai: Mẫu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng hay chưa

Thứ ba: Anh có đồng ý ly hôn hay không

Trong trường hợp anh không đồng ý ly hôn và tòa án xác định không đủ căn cứ để ly hôn tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Về tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được được xác định theo tinh thần như sau:

Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi: 

+   Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

+   Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

+   Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

-  Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn bên trên.

Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

- Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Trường hợp này thì tòa án sẽ trả lại đơn ly hôn theo quy định tại Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về trả lại đơn khởi kiện:

“1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

…”

Như vậy là hôn nhân của anh vẫn tiếp tục duy trì. Và vợ anh sau khi bị tòa trả lại đơn, nếu cô ấy muốn nộp lại đơn thì phải 1 năm sau vợ anh mới có quyền nộp lại đơn.

>> Tư vấn thắc mắc về vấn đề ly hôn theo quy định pháp luật, liên hệ: 1900.6169

---

- Tư vấn chia tài sản sau khi ly hôn

Câu hỏi tư vấn: Xin luật sư tư vấn cho em về việc chia tài sản sau ly hôn như thế nào ạ? Vợ chồng em kết hôn được 3 năm và đã có 1 con được 2 tuổi. Vì vợ chồng chưa có nhà cửa nên bố mẹ đẻ em đã xây nhà cho vợ chồng em trên mảnh đất của ông bà và ông bà đã chuyển chuyền sử dụng đất cho em là con gái của ông bà. Như vậy em muốn hỏi nếu vợ chồng em ly hôn thì mảnh đất này có coi là tài sản chung hay không? Và làm thế nào để mảnh đấy này được coi là tài sản riêng. Em xin cám ơn!!

Trả lời tư vấn: Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Gia với thắc mắc của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau.

"Điều 33. Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng".

Đối với mảnh đất bạn hoàn toàn có thể chứng minh được đó là tài sản riêng.

Theo Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Đối với các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận thường chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng 

Để mảnh đất này được coi là tài sản riêng bạn phải chứng minh tài sản này là do bố mẹ bạn tặng cho thông qua hợp đồng tặng cho bất động sản.

 Bộ luật Dân sự cũng quy định:

"Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu".

Như vậy chỉ cần bạn chứng minh được mảnh đất đó là do bố bạn chuyển quyền sử dụng đất cho bạn thông qua một hợp đồng tặng cho riêng thì tài sản đó sẽ trở thành tài sản riêng.

Trên đây là nội dung tư vấn về: Hỏi tư vấn nhằm trì hoãn việc ly hôn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ bạn vui lòng liên hệ luật sư tư vấn ly hôn trực tuyến để được giải đáp.

Hotline: 1900 6169