LS Thanh Hương

Giả mạo chữ ký để vay tiền bị xử phạt như thế nào

Mất sổ đỏ được Ủy ban cấp lại. Đến ngày hẹn lấy sổ được biết sổ cũ do chồng và người khác dả mạo chữ ký để thế chấp. Giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền lợi cho người vợ và người nhận thế chấp.

Nội dung yêu cầu tư vấn: Thưa luật sư! Nhà tôi có một sổ đỏ chứng nhận quyền sử dụng đất . Tôi là chủ hộ. Trong khi chuyển nhà thì sổ mất nên tôi ra xã cớ mất và xã đã làm cho tôi sổ mới nhưng đến ngày cấp thì có bà N ra xã nói là không phải tôi mất sổ mà do chồng tôi là ông B đem thế chấp để mượn với số tiền là 20triệu đồng. Nhưng bà N nói ông B cùng bà C ra mượn chứ không phải tôi. Bà C đã giả mạo chữ ký của tôi để mượn tiền. Nhưng trước đó tôi và ông B đã ly thân 10 năm và bây giờ không biết  ông B đang ở đâu. Bà N bây giờ làm đơn kiện ông B và tôi nhưng người cùng ông B vay không phải tôi. Vậy tôi là người bị hại và bà N là bị lừa. Theo pháp luật thì sẽ giải quyết như thế nào.? Cảm ơn luật sư.!

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi vấn đề tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Vấn đề bạn đưa ra chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Việc bạn được cấp sổ đỏ mới và được hẹn đến ngày để lấy sổ đỏ. Bạn tiến hành nhận sổ đỏ tại Ủy ban nhân dân nơi tiến hành cấp sổ đỏ đó cho bạn

Đối với việc bà N cho rằng sổ đó nhà bạn không phải do bị mất mà do chồng bạn và người khác mang thế chấp với số tiền 20 triệu đồng.
Theo như thông tin bạn cung cấp hiện tại giữa bạn và chồng bạn đã ly thân đc 10 năm và không có tin tức gì về người chồng.  Khi chưa có quyết định ly hôn của Tòa án thì hôn nhân giữa bạn và người chồng vẫn tồn tại.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng…”

Như vậy hợp đồng thế chấp tài sản này phải có chữ ký của cả hai vợ chồng hoặc được ủy quyền trong trường hợp đó là tài sản chung của vợ chồng.

Bạn chứng minh được việc giả mạo chữ ký của bạn là có căn cứ, khi đó hợp đồng thế chấp này sẽ bị coi là vô hiệu.

Phía bên bà N đưa ra được các giấy tờ chứng minh cho việc thế chấp đó là có căn cứ , đồng thời bạn chứng minh được rằng mình không liên quan đến việc thế chấp tài sản, chứng minh được rằng chữ ký trong hợp đồng thế chấp đó không phải của bạn thì phía bà N có thể khởi kiện về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với ông B và bà C.

Điều 139 Bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm....".

Cấu thành tội này đảm bảo các yếu tố:

Chủ thể: Đạt độ tuổi do luật định và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do pháp luật hình sự quy định

Khách thể:  Xâm phạm đến quan hệ sở hữu

Mặt khách quan: Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.
Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)

Mặt chủ quan: Lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản


Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Giả mạo chữ ký để vay tiền bị xử phạt như thế nào. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

 

Trân trọng


C.v: Mỹ Hà - Công ty Luật Minh Gia.