Nguyễn Thu Trang

Điều kiện để di chúc có hiệu lực pháp luật và thời điểm mở thừa kế

Tranh chấp về thừa kế là loại tranh chấp phổ biến thường xuyên bắt gặp trong đời sống và có xu hướng tăng đột biến những năm gần đây. Đặc biệt, nhiều trường hợp tranh chấp đất đai thừa kế kéo dài từ giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm đến giám đốc thẩm và tái thẩm.

1. Luật sư tư vấn Luật Dân sự

Tranh chấp thừa kế về đất đai ở nước ta được xem là loại án dân sự phổ biến, phức tạp, có những vụ án tranh chấp thừa kế kéo dài hàng chục năm. Một nguyên nhân quan trọng làm cho tranh chấp thừa kế phức tạp vì đây là tranh chấp giữa những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Mặt khác, khi sự hiểu biết pháp luật nâng cao và giá trị đất đai không ngừng tăng thì sự chi phối, ảnh hưởng của các giá trị truyền thống về văn hoá, đạo lý trong gia đình cũng không còn ảnh hưởng nhiều. Vì vậy, nhiều tranh chấp đất đai dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng về các mối quan hệ anh em, thân thích.

Nếu bạn còn đang thắc mắc về những vấn đề liên quan đến tranh chấp đất đai thừa kế, bạn hãy liên hệ hệ tổng đài Luật sư tư vấn của Luật Minh Gia 1900.6169 hoặc gửi yêu cầu về Email tư vấn để được chúng tôi cung cấp những căn cứ pháp luật, đề xuất phương hướng giải quyết và các thủ tục liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về thừa kế đất đai. Ngoài ra bạn có thể tham khảo hình huống sau đây để có thêm kiến thức hiểu biết về di chúc thừa kế.

2. Tư vấn điều kiện di chúc có hiệu lực và thời điểm mở thừa kế

Câu hỏi tư vấn: Cho tôi hỏi về di chúc và thừa kế như sau: Trước khi mất ông nội tôi có viết giấy phân chia tài sản thành 3 phần cho các bác và bố tôi ( ông tôi có ba người con, hai gái, một trai ). Trước khi ông mất các bác  tôi đã làm hết sổ đỏ phần của các bác. Còn phần đất còn lại do nghĩ mình là con trai duy nhất nên bố tôi chưa làm sang tên cho mình và hiện giờ thì sổ đỏ vẫn mang tên ông nội tôi.

Giờ bố tôi muốn làm sổ đỏ đứng tên bố tôi nhưng bà nội và các bác tôi lại không đồng ý và bắt phải làm sang tên cho bà nội tôi. Hiện nay bố tôi đang giữ sổ đỏ mang tên ông nội đã mất và bản phô tô giấy phân chia tài sản có chữ ký của ông, bà nội, 02 bác, bố tôi và xác nhận của UBND. Kính mong công ty giúp đỡ gia đình tôi. Cảm ơn!

Nội dung tư vấn: Cảm ơn chị đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Minh Gia. Đối với vấn đề của chị chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, ông bạn trước khi mất có để lại văn bản phân chia phần đất cho các con. Văn bản này được coi là một di chúc hợp pháp nếu có đủ các điều kiện theo Điều 630 – Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”

Đồng thời, Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định rõ về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng như sau:

Điều 633. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này.”

Nếu đảm bảo những điều kiện trên thì văn bản ông nội bạn để lại được công nhận là một di chúc hợp pháp và phần di sản ông để lại được chia theo nội dung di chúc ông đã lập.

Theo quy định của pháp luật thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm khi người đó chết. Như vậy, nếu như giấy phân chia tài sản của ông bạn là di chúc thì khi ông chị mất di chúc đó mới có hiệu lực. Thời điểm này mới có thể chia tài sản và làm sổ đỏ. Nếu như giấy chia tài sản của ông bạn đúng và phù với với qui định của pháp luật về những điều kiện dưới đây thì các bác chị không có cơ sở để yêu cầu bố bạn để bà bạn đứng tên sổ đỏ được.

Trường hợp di chúc không hợp pháp (giấy phân chia tài sản), tài sản của ông bạn sau khi mất sẽ được chia theo pháp luật. Với văn bản ông bạn để lại, có chữ ký của bà và hai bác gái nên có thể di chúc sẽ không có hiệu lực. Khi đó, theo quy định của pháp luật thì di sản của ông bạn sẽ được chia thành 4 phần bằng nhau cho bà bạn và ba người con, cụ thể:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Vì vậy, trong trường hợp này cả bốn người đều hưởng phần di sản bằng nhau, bố bạn có thể không có quyền sử dụng với toàn bộ thửa đất.

Hotline: 1900 6169