Trần Việt Dũng

Để di chúc hợp pháp cần đáp ứng những điều kiện gì?

Luật sư tư vấn về di chúc định đoạt di sản thừa kế và điều kiện để di chúc hợp pháp. Nội dung tư vấn như sau:

Kính gửi Văn phòng Luật Minh Gia!Quý văn phòng tư vấn giúp tôi về trường hợp sau:- Gia đình  tôi gồm 5 người con gái và 1 người con trai (ai cũng lập gia đình và đã có 2 người con) . Cha  tôi đã chết, mẹ  tôi còn sống. Tôi chỉ nghe thoáng qua là cha  tôi có để lại di chúc với nội dung" nhà này để lại cho người con trai thờ cúng ông bà không được quyền sang nhượng". Nhưng di chúc vẫn chưa đựoc công bố và di chúc này đựoc giao cho 1 người con gái giữ. Vậy quý văn phòng tư vấn giúp tôi:1. Vì di chúc chưa được công bố, như vậy nếu người con gái này muốn huỷ bỏ di chúc và nói là ko có di chúc và di chúc được lập lại với nội dung khác theo ý kiến của mẹ tôi. Thì di chúc nào sẽ có hiệu lực? và tôi phải xử lý tình hống này như thế nào?2. Nếu 5 người con gái ký tên đồng ý bán tài sản này nhưng người con trai không đồng ý thì tài sản này có bán được không? Khi không có tờ di chúc nào của ba mẹ tôi để lại hoặc di chúc để lại tài sản cho tất cả các con.3. Di chúc có thể lập bởi mẹ tôi với nội dung " tài sản này sẽ chia cho 5 người con gái không chia cho người con trai" Vậy di chúc như vậy có hợp pháp không? Và người con trai này có thể khởi kiện được không?Rất mong được sự quan tâm tư vấn của Quý văn phòng.Tôi chân thành cảm ơn ạ.

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia, với vụ việc của bạn chúng tôi có quan điểm tư vấn như sau:

Thứ nhất theo quy định tại điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về điều kiện di chúc hợp pháp như sau:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

Theo đó, để di chúc hợp pháp cần có đủ điều kiện là người lập di chúc minh mẫn. sáng suốt trong khi lập, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật không trái với đạo đức xã hội,…. Đối chiếu với trường hợp của bạn, di chúc này được bố lập tuy nhiên lại không nói rõ hình thức hợp đồng này là bằng văn bản có công chứng, chứng thực hay có người làm chứng,….nên giờ sẽ phải xác định điều kiện trên để xét tính hợp pháp.

Nếu di chúc này được lập bằng văn bản nhưng không đáp ứng điều kiện trên thì khi này di chúc của bố là di chúc không hợp pháp. Do vậy sẽ tiến hành thủ tục phân chia di sản theo pháp luật, tức phân chia cho những người thuộc hàng thừa kế  mỗi người hưởng một phần.

Nếu di chúc này được lập thành văn bản và hoàn toàn phù hợp với điều kiện trên không bị lừa dối, cưỡng ép, khi lập hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt,… thì xác định đây là di chúc hợp pháp của bố định đoạt phần di sản của bố. Mà di chúc này có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế , thời điểm mở thừa kế chính là thời điểm bố chết.

Điều 643. Hiệu lực của di chúc

1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy di chúc này đã có hiệu lực, do vậy không thể tự ý sửa đổi nội dung di chúc, mẹ sẽ được lập di chúc định đoạt phần tài sản của mẹ, còn đây là phần tài sản của bố cho nên không ai được phép thay đổi di chúc của bố.

Thứ hai, nếu di chúc này là hợp pháp thì di sản của bố đã định đoạt đây là di sản dùng vào việc thờ cũng cho nên những người trong hàng thừa kế không thể định đoạt việc chuyển nhượng mảnh đất này theo quy định tại điều 645 BLDS năm 2015 như sau:

Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng

1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Thứ ba, nếu trường hợp mẹ muốn thay đổi lại di chúc của bố để lại thì sẽ không được thực hiện. Mẹ chỉ được lập di chúc định đoạt phần tài sản của mẹ, nếu mẹ cùng những người con gái thay đổi nội dung di chúc như vậy người con trai có quyền gửi yêu cầu đến Tòa án để đảm bảo quyền lợi của mình. 

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.


CV tư vấn: Hà Tuyền - Luật Minh Gia