LS Thanh Hương

Con cái sau ly hôn ở với ai? Quy định thế nào?

Thưa luật sư Công ty Luật Minh Gia! Nhờ luật sư tư vấn về việc con cái sau ly hôn sẽ ở với ai, pháp luật quy định thế nào về quyền nuôi con, chia tài sản, cụ thể: Hiện chồng tôi đang làm đơn ly hôn đơn phương ra tòa vì giữa 2 chúng tôi không thỏa thuận được việc nuôi con. (chúng tôi lấy nhau từ cuối năm 2009). Chúng tôi đang ly thân, con gái đang ở với tôi (cháu chuẩn bị vào lớp 1) còn con trai ở với anh ta.

Tôi đang ở với bố mẹ đẻ, cùng với bà và em gái vì hiện còn đang khó khăn và cũng để tiện cho việc cháu đi học nên mẹ con tôi chưa thuê nhà ở riêng. Chồng tôi hiện làm giám đốc Cty TNHH được thành lập từ năm 2011 (vốn điều lệ: 500tr) Tôi hiện nhận kê khai thuế cho các công ty tư nhân lương tháng được hơn 6tr Chúng tôi có 2 con chung: 1 con gái gần 6t, 1 con trai 4t Trước khi thỏa thuận ly hôn có phân rõ tôi nuôi con gái, chồng tôi nuôi con trai. Do thời gian vừa qua tôi có 1 sô khúc mắc về chuyện tiền bạc, tôi bị người ta lừa nên nợ nần nhưng hiện giờ đã giải quyết ổn thỏa không còn bất kể vướng mắc nào. Nhưng giờ chồng tôi cứ vin vào cớ đó nói tôi lừa đảo rồi nợ nần nên muốn giành quyền nuôi con, anh ta ra sức tìm bằng chứng để chứng minh. Về tài sản chung sau khi lấy nhau tôi lo về cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, chồng tôi cũng có đưa tiền nhưng khi nào tôi yêu cầu mới đưa còn ko thì ko đưa mỗi lần đưa tôi được 2tr sau chán tôi cũng ko yêu cầu nữa nhưng cũng ko tự giác đưa cho tôi. Tôi phải tự lo sinh hoạt hàng ngày, còn tiền anh ta làm được anh ta mua nhà mua đất nhưng lại ko đứng tên để cho mẹ anh ta đứng tên dù mẹ anh ta ở quê, khi tôi sinh cháu ra trông cháu từ năm 2011 mà nhà được mua từ cuối năm 2011 cho đến năm 2015 anh ta và mẹ giấu tôi đi mua 1 mảnh đất nữa (căn nhà khi mua anh ta nói tôi ko vay mượn gì để góp nên coi như anh ta mua - 1tỷ; mảnh đất mua sau này - gần 800tr) tất cả sổ đỏ đều để cho mẹ chồng tôi đứng tên anh ta ko hề đứng tên. Ngoài ra trong thời gian đầu năm 2014 anh ta mua được 3ha đất ruộng (đất 03) chỉ có thủ tục là giấy tờ viết tay qua phường đứng tên anh ta. Đến đầu năm 2013 anh ta mua 1 xe ô tô cũ trị giá 350tr đứng tên anh ta. Tôi muốn hỏi luật sư:

1. Liệu tòa có chấp nhận cho anh ta nuôi 2 đứa con không? Hay phân chia quyền nuôi con như thế nào? Tôi phải làm như thế nào để giành quyền chắc chắn nuôi 1 người con.

2. Khi ra tòa liệu tôi có được phân chia tài sản với anh ta không? Và nếu có thì là những tài sản nào? Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty Luật Minh Gia Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư !

Trả lời tư vấn: Cảm ơn chị đã tin tưởng lựa chọn tư vấn bởi Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của chị chúng tôi tư vấn như sau:

Về vấn đề quyết định quyền nuôi con, còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trước hết là lựa trên lợi ích của người con, nếu xét thấy để con ở với cha hay mẹ sẽ tốt cho sự phát triển của bé, thì Tòa sẽ phán quyết cho người đó được nuôi con.

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn tại Điều 81 như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo như những thông tin chị cung cấp cho chúng tôi, thì hai con của chị đang ở độ tuổi 6 tuổi và 4 tuổi, như vậy, sẽ không rơi vào trường hợp giao con dưới 36 tháng tuổi trực tiếp cho người mẹ nuôi, cũng không thuộc trường hợp hỏi nguyện vọng của trẻ từ 07 tuổi trở lên trước tòa. Do vậy, tòa sẽ xét thêm bên nào giữa cha và mẹ được quyền nuôi con là tốt cho sự phát triển của trẻ nhất. Những yếu tố quyết định đến quyền nuôi con của cha và mẹ có thể xét trên những cơ sở về đạo, đức, thu nhập, thời gian chăm sóc con,…

Trong trường hợp của chị, tòa án sẽ xem xét để thấy chị có đủ những điều kiện để đảm bảo nuôi dưỡng và chăm sóc con hay không. Gia đình chị đang có hai bé, và cả phía cha và mẹ đều có mong muốn được trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Theo đó, nếu cả chị và chồng chị cùng đủ điều kiện để nuôi dạy trẻ, thường thì tòa án sẽ phán quyết để vợ và chồng mỗi người nuôi một con nếu không thấy bất cứ dấu hiệu gì về việc không đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con từ một phía vợ hoặc chồng.

Ở đây, như chị đã trình bày, thu nhập và điều kiện sống của chồng chị có phần cao hơn chị, tuy nhiên đó không phải yếu tố để quyết định việc anh ta sẽ được quyền nuôi cả hai bé. Nếu xét thấy kinh tế của chị tuy không tốt bằng phía người chồng, nhưng vẫn đủ điều kiện để nuôi dưỡng con thì quyền nuôi con của chị cũng không bị ảnh hưởng bởi vấn đề chênh lệch kinh tế này.

Do vậy, để dành được quyền nuôi một người con, chị cần chứng minh vấn đề  kinh tế của mình ổn định và đủ điều kiện để nuôi dưỡng một đứa trẻ, bên cạnh đó là có đủ thời gian để chăm sóc con, tạo điều kiện cho bé được sống trong môi trường có đủ tình thương yêu từ phía người mẹ.

Việc chồng chị nói rằng chị có vấn đề lừa đảo tài sản và dựa vào đó gây khó dễ cho chị trong việc dành quyền nuôi con, Tòa án sẽ xem xét yêu tố xác thực của vấn đề này, nếu sự việc nghiêm trọng có thể gây ảnh hưởng đến phán quyết của Tòa khi cân nhắc trao cho chị quyền nuôi con, còn nếu những gì chồng chị nói là không đúng sự thật, chị có thể trình bày trước Tòa để bảo vệ quyền lợi của mình.

Về vấn đề những tài sản nào chị có thể nhận được sau khi ly hôn, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Do vậy, thu nhập của chồng chị trong thời kỳ hôn nhân cũng được coi là tài sản chung của vợ và chồng, theo đó nếu chồng chị mua nhà, đất, ô tô bằng tiền thu nhập kinh doanh thì những tài sản này sẽ được xác định là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, một số tài sản như nhà và đất chồng chị lại để mẹ anh ta đứng tên, điều này sẽ gây bất lợi cho chị, chị cần chứng minh được tuy người đứng tên là mẹ chồng nhưng thực chất, chủ sở hữu nhà đất vẫn là chồng chị. Khi đã xác minh về vấn đề này, Tòa án sẽ thực hiện việc phân chia tài sản. Quy định về phân chia tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 – Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

..."

Theo đó, với những tài sản được xác định là tài sản chung của chị và chồng thì Tòa án sẽ tiến hành chia đôi, nhưng có xem xét đến các yêu tố như hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp vào việc tạo lập và duy trì tài sản cùng lợi ích chính đáng của mỗi bên để đưa ra phán quyết cụ thể.

Hỏi tư vấn qua điện thoại