Luật gia Nguyễn Nhung

Có được sang tên sổ đỏ sau khi chồng mất

Khi một bên vợ hoặc chồng mất mà để lại di sản thì sẽ phát sinh quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, tuy nhiên việc phân chia di sản thừa kế hiện nay cũng gặp rất nhiều vướng mắc về hồ sơ, giấy tờ dẫn đến việc tranh chấp giữa những người được hưởng di sản, do đó để hiểu rõ hơn về vấn đề này bạn có thể liên hệ với Luật sư để được giải đáp cụ thể.

1. Luật sư tư vấn về việc hưởng di sản thừa kế

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân của vợ, chồng. Khi một bên mất thì sẽ phát sinh quyền thừa kế cho những người được hưởng thừa kế. Đối với trường hợp người mất không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế theo quy định.

Tuy nhiên, nhiều trường hợp có tranh chấp về việc hưởng di sản thừa kế hoặc một trong những người được hưởng di sản thừa kế gây khó khăn trong việc hưởng di sản thừa kế của những người còn lại dẫn đến việc phân chia di sản thừa kế kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên.

Do đó, nếu gia đình bạn gặp phải trường hợp này và chưa biết phải giải quyết như thế nào thì bạn có thể liên hệ với Luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ tư vấn.

Bạn có thể gửi yêu cầu tư vấn hoặc gọi: 1900.6169 để được giải đáp kịp thời.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo trường hợp chúng tôi xử lý sau đây để có thêm kiến thức pháp lý trong lĩnh vực này.

2. Thủ tục thừa kế đất đai cho vợ khi người chồng mất

Câu hỏi: Kính gửi luật sư gia:- Vợ chồng tôi cùng đứng tên trong hợp đồng mua đất, sau khi mua vợ chồng tôi thế chấp bìa đỏ mang tên chủ cũ để vay tiền ngân hàng. Trong thời gian chưa trả hết nợ ngân hàng thì Chồng tôi mắc bệnh và đã chết.- Giờ tôi đã trả hết nợ ngân hàng và lấy giấy tờ bìa đỏ kèm hợp đồng mua bán đất về.- Luật sư cho Tôi hỏi: giờ Tôi muốn sang tên đổi chủ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm thế nào? Kính mong nhận được sự tư vấn giúp đỡ.

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tới Công ty Luật Minh Gia! Về yêu cầu của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

Điều 675 BLDS 2005 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật:

"1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:a) Không có di chúc; ..".

Điều 676 BLDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

...

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Điều 14 BLDS 2005 quy định về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:

"1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết".

Theo chị trình bày, chồng chị mất trước thời điểm nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không được ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với trường hợp này, Cơ quan có thẩm quyền sẽ kết hợp giải quyết cấp giấy chứng nhận và chia dí sản thừa kế của chồng chị để lại.

Trình tự thủ tục sang tên sổ đỏ: 

+Liên hệ với Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng để tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế;

+ Làm thủ tục khai tử tại Tư pháp xã (phường, thị trấn);

+ Đơn đề nghị đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất (theo mẫu);

+ Di chúc( nếu có)

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất

+ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng chứng thực

+ Bản sao có chứng thực Sổ hộ khẩu, CMND.

 Nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký nhà đất nơi có tài sản để tiến hành thủ tục đăng ký sang tên cho bạn.

Trong trường hợp này cần xác định cụ thể thời điểm chồng chị chết để xác định nghĩa vụ trả nợ và thanh toán nợ đối với khoản nợ còn lại của ngân hàng mà vợ chồng chị đã vay và đã được chị thanh toán hết sau đó.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Có được sang tên sổ đỏ sau khi chồng mất. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Hotline: 1900 6169