Trần Phương Hà

Chia tài sản ly hôn có yếu tố nước ngoài

Luật sư tư vấn về việc chia tài sản ly hôn, giải quyết ly hôn và chia tài sản có yếu tố người nước ngoài như thế nào? thủ tục giải quyết khi một bên vợ hoặc chồng không muốn ly hôn. Cụ thể qua bài viết dưới đây:

1. Giải quyết phân chia tài sản ly hôn có yếu tố nước ngoài thế nào?

Câu hỏi:

Chào luật sư, Cho em hỏi về việc chia tài sản ly hôn có yếu tố người nước ngoài như sau: Em có một người bạn nước ngoài muốn ly hôn với vợ người Việt Nam, trước khi kết hôn, anh ấy có mở một công ty TNHH 1 thành viên do anh ấy đứng tên và vốn 100% nước ngoài

Nếu ly hôn thì công ty ấy là tài sản riệng hay tài sản chung? vì trong quá trình kết hôn, vợ và anh ấy cùng kinh doanh công ty, nhưng tiền của khách hàng đều chuyển vào tài khoản riệng của chị ấy, mặc dù anh ấy đã nhiều lần yêu cầu phải chuyển vào tài khoản công ty,anh ấy hoàn toàn không năm rõ được số tiền đã thu về.

Hiện giờ mọi giấy tờ chị ấy đều giử, nếu anh ấy muốn ly hôn thì phải làm sao? và tài sản phân chia thế nào? ( ờ VN anh ấy chỉ có tài sàn duy nhất là 1 công ty TNHH). Xin cám ơn luật sư.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, về vấn đề này chúng tôi tư vấn như sau:

1. Về tài sản riêng của vợ chồng

Theo quy định Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng chi tiết như sau:

"Xem trích dẫn quy định"

Trường hợp anh chồng thành lập doanh nghiệp trước khi kết hôn, và nguồn vốn của doanh nghiệp là khối tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người này thì theo quy định tại Điều xác định là tài sản riêng của chồng. Nếu đã chứng minh được là tài sản riêng của chồng thì HĐXX sẽ không xác định đó là tài sản chung hợp nhất để tiến hành chia theo quy định.

>> Tư vấn về tài sản vợ chồng có yếu tố nước ngoài, gọi: 1900.6169

Tuy nhiên, thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Và cô vợ có quyền yêu cầu chia khoản tiền này, đó là quyền và lợi ích hợp pháp của vợ.

2. Về tài sản chung vợ chồng

Căn cứ theo Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

"Xem trích dẫn chi tiết"

Yêu cầu của bạn liên quan tới công ty TNHH của chồng. Sau khi giải quyết ly hôn, cá nhân này vẫn đứng tên là chủ sở hữu của doanh nghiệp và tiếp tục thực hiện các hoạt động kinh doanh mà không phải tiến hành bất kỳ thủ tục nào để chuyển đổi loại hình (đưa người vợ trở thành thành viên công ty).

3. Trường hợp chồng muốn ly hôn thì phải làm sao? Và tài sản phân chia thế nào?

Về thủ tục ly hôn bạn có thể tham khảo bào viết sau:

>> Luật sư tư vấn về thủ tục ly hôn theo yêu cầu của một bên

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"Xem nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn"

Vậy, khi ly hôn nếu các bên thoả thuận được với nhau về việc phân chia tài sản thì sẽ theo sự thoả thuận đó. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì theo yêu cầu Toà án sẽ giải quyết.

----

2. Tư vấn chia tài sản khi ly hôn theo quy định pháp luật

Câu hỏi:

Trước khi chúng tôi quen biết nhau anh có nói anh đã ly hôn và cho tôi xem giấy ly hôn và có một con chung sinh năm 1985 sau này tôi biết đáy là giấy ly hôn giả với bồ anh ấy", tới tháng 1 năm 2000 tôi và chồng tổ chức đám cưới, có ảnh cưới, và ăn ở với nhau liên tục từ khi cưới tới giờ tới tháng 8 tôi sinh con chung giữa hai vợ chồng, nhưng chưa đăng ký kết hôn.

Tới năm 2004 tôi phát hiện, chồng tôi đã lừa dối tôi, anh chưa ly hôn vợ chính thức của mình và có 3 người con trai riêng người vợ chính thức vỡ nợ bỏ trốn vào Nam từ năm 2003 tới năm 2005 mới về và tháng 4 năm 2006 hai người thuận tình ly hôn. từ năm 2005 dến năm 2008 chúng tôi cùng nhau làm và tôi là người tự đi tìm và mua cũng như xây dưng 3 ngôi nhà và 1 mảnh đất. Còn anh ấy mua ở quê 4 mảnh đất năm 2007.

Tôi đâu ngờ chông tôi tính toán không chịu làm đăng ký kết hôn với tôi, dù nhiều lần tôi nhắc nhở việc đăng ký.để anh ấy một mình dựng tên tất cả sổ đỏ, cho tới tháng 2 năm 2012 anh ấy và tôi mới đăng ký kết hôn. tới tháng 8 năm 2013 vợ chông tôi mâu thuẫn vì anh ấy bị suy thận tôi đưa anh ấy đi viện và ghép thận, thời gian đó anh giấu tôi đưa hết giấy tờ đất cát cũng như một số tài sản khác cho con trai lớn là con riêng của anh ấy giữ, khi anh ấy ra viện tôi hỏi anh về chuyện giấy tờ thi anh ấy đòi ly hôn với tôi, sau khi vợ chông tôi đi tư vân luật sư được biết nếu chồng tôi không chứng minh được nguồn thu cũng như hợp đồng cho tặng thi tài sản ấy được chia đôi vì tôi đang nuôi con ăn học tôi sẽ được phần hơn, biết được điều đó anh ấy không đồng ý ly hôn nữa cho tới năm 2015, luật tài sản chung và riêng thay đổi tôi không biết nên anh ấy tự ý sang tên cho 2 đứa con riêng minh mảnh đất mua năm 2008 và 4 mảnh anh mua. khi tôi nói anh ấy bảo tôi, đây là tài sản của riêng, cho ai là quyền của anh ấy, tôi k có quyền gì hêt.

Cũng trong năm 2015 anh ấy vay vôn ngân hàng và bắt tôi viết giấy là tài sản riêng tôi không nghe tôi bắt anh ấy viêt cho tôi môt tờ giấy riêng ghi rõ mảnh đất thế chấp là tài sản chung. Vậy tôi xin ý kiến luật sư tôi có quyền gì trong khối tài sản ấy không,, tôi có nên làm đơn kiên chồng tôi không, và làm thế nào giữ được quyên lợi cho con tôi.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty Luật Minh Gia. Từ những thông tin bạn cung cấp chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

- Về việc chung sống khi chưa ly hôn

Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn Điều 147 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2009 như sau:

"... 3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS) 

3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó... 

3.2. Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. 

Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v... 

b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

3.3. Trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS. "

Việc người là chồng bạn hiện tại, trước kia đã có vợ nhưng đã che giấu và chung sống như vợ chồng với bạn. Năm 2000, hai người kết hôn trong khi chồng của bạn hiện tại chưa ly hôn với vợ, tới năm 2006 mới ly hôn.

Nếu việc chung sống như vợ chồng với bạn là nguyên nhân khiến cho gia đình cũ ly hôn thì có thể cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo quy định của BLHS 1999 sửa đổi 2009. Nếu chồng bạn và vợ cũ thỏa thuận ly hôn, mục đích hôn nhân không đạt được thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Về vấn đề chia tài sản chung

Bộ luật Dân sự quy định về Sở hữu chung của vợ chồng như sau:

"1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án.

Tại Luật hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

"Xem trích dẫn quy định"

Căn cứ quy định trên, tài sản chung là tài sản tạo lập sau khi kết hôn, được tặng cho chung, thừa kế chung, vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Hai người cũng đã kết hôn nên mọi tài sản có được sau thời điểm đăng ký kết hôn đều là tài sản chung và bạn có quyền lợi đối với tài sản đó.

Về 4 mảnh đất mà con riêng của chồng bạn đã mua. Nếu 4 mảnh đất này do con riêng của chồng bạn đứng tên thì đó là tài sản của con riêng của chồng bạn. Nếu 4 mảnh đất này là do chồng bạn mua riêng không cho bạn biết, dùng tài sản riêng để mua và tại thời điểm mua đất 2 người chưa đăng ký kết hôn, hiện tại bạn không chứng minh được công sức đóng góp để chồng bạn mua đất và năm 2011 hai người kết hôn mà không có thỏa thuận gì về việc đưa 4 mảnh đất ở quê mà chồng bạn đứng tên là tài sản chung thì đấy được coi là tài sản riêng của chồng bạn. Và bạn sẽ không có quyền lợi với tài sản này.

Trước khi kết hôn, tài sản hình thành trong thời gian này nếu được thỏa thuận sở hữu chung thì đó là tài sản chung của 2 bạn. Nếu không có thỏa thuận và không chứng minh được công sức đóng góp thì tài sản do ai đứng tên thuộc về người đó. Năm 2008 là thời điểm trước khi kết hôn, bạn mua 1 mảnh đất và xây dựng 3 ngôi nhà. Năm 2011 khi hai người kết hôn, bạn để chồng bạn là người đứng tên mảnh đất mua năm 2008. Tới năm 2015 chồng bạn tự ý sang tên cho con riêng.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có cung cấp thông tin mảnh đất này là do bạn tự mua, tức là bạn là một bên trong hợp đồng mua bán mà không có tên chồng bạn. Bạn có thể căn cứ vào hợp đồng mua bán đất, các hóa đơn, chứng từ thanh toán khi bạn mua nguyên vật liệu xây dựng nhà để chứng minh công sức của mình vào khối tài sản được tạo dựng năm 2008 để giành được quyền sử dụng đất đối với phần tài sản này.

Gọi ngay