Hoài Nam

Quy định pháp luật về tội tham ô tài sản

Thế nào là tham ô tài sản? Dựa trên căn cứ nào để truy cứu hình sự với tội tham ô tài sản? Pháp luật quy định như thế nào về việc hỏi cung và đối chất trong giai đoạn điều tra? Luật Minh Gia giải đáp thắc mắc liên quan đến vấn đề này qua tình huống sau đây:

1. Luật sư tư vấn về hình sự

Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết. Trên thực tế nhiều trường hợp không nắm rõ quy định pháp luật, dẫn đến việc không thể bảo vệ chính bản thân khi làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng.

Nếu bạn đang muốn tìm hiểu về quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này, hãy gửi câu hỏi, ý kiến thắc mắc của mình về Email của công ty Luật Minh Gia hoặc liên hệ Hotline: 1900.6169 để được các Luật sư, chuyên viên hướng dẫn.

2. Luật sư tư vấn về tội tham ô tài sản

Câu hỏi tư vấn:  Hiện nay người nhà tôi đang bị tạm giam gần 1 năm trời (từ ngày 19/11/2019 đến nay đã là 8/12/2020) vì hành vi tham ô tiền truy lĩnh tuổi đảng, giả mạo chữ ký lấy tiền tham ô từ năm 2018. Người này kiện người nhà tôi đến BTC huyện, BTC chưa điều tra rõ đã bỏ phiếu kín khai trừ người nhà tôi ra khỏi Đảng. Người nhà tôi không đồng ý đã nộp đơn yêu cầu làm rõ, BTC huyện uỷ đã gửi đơn lên CA huyện để điều tra từ năm 2018, làm việc cùng người nhà tôi và những người đã được nhận đủ tiền kia nhưng không cho đối chất với từng người, họ chỉ căn cứ vào lời khai của những người nhận tiền kia. Người nhà tôi nộp đầy đủ bằng chứng cho CA để giám định chữ ký. BTC huyện uỷ khi phát tiền và danh sách là danh sách không có chữ ký của BTC, tiêu đề ghi: Danh sách chi tiền từ 50 năm tuổi đảng trở lên từ tháng 1/2018 đến tháng 7/2018, không đưa cách chia tiền. Người nhà tôi phải tự chia từ số tiền nhận từ BTC huyện uỷ đưa về chi cho những người được hưởng truy lĩnh, không tách riêng từng tháng, thận trọng hơn người nhà tôi có bảo họ ký sang quyển sổ theo dõi cá nhân A4, tự chia ra 1 tháng người đó nhận là bao nhiêu cho họ ký nhưng xuống dòng có viết thêm số tiền 1 tháng x 6thang = 9người thì để chia 1 tháng là bao nhiêu, nhưng họ lại bảo người nhà cháu có động cơ mục đích lấy tiền không chi trả, sổ tay cá nhân làm gì có chứng cứ pháp lý gì? Người nhận tiền khai nhận tiền từ tháng 4 đến tháng 8 (VD: ô đấy đc hưởng 5.515.000 mà bảo nhận có 3.240.000) nhưng tháng 8 là 1 danh sách khác, họ ký và ghi rõ họ tên. Bản kết luận VKHHS Bộ công an khẳng định không phải chữ ký người nhà tôi, chữ ký và chữ viết dưới phần người nhận là chữ ký của những người nhận tiền. Có người đã mất, vợ nhận thay ký tên chồng, đến nay cả 2 ông bà đều mất. Lần 2 để làm rõ vấn đề chữ ký người đã mất, người nhà tôi gửi đơn và chứng cứ liên quan đến chữ ký của người ký hộ chồng và 1 số vấn đề làm rõ cho VKHHS, VKHHS đã chứng minh không phải chữ ký người nhà tôi, chữ ký ở cột ký nhận danh sách chi và sổ giáo án là người nhận tiền ký. Khi người nhà tôi bị tạm giam gần 5 tháng, gia đình tôi khiếu kiện thì CA mới hỏi cung 1 lần. Đến bây giờ chuyển lên VKS tỉnh, bản kết luận của CA đều ra kết luận chứng cứ 1 chiều và tin vào lời khai của những người đã nhận đủ tiền sau 2,5 tháng khiếu kiện vô căn cứ. Những chứng cứ gia đình tôi thu thập được và nộp để làm sáng tỏ vụ án có công chứng của xã và huyện nhưng không được cho vào bản kết luận và cho rằng người nhà tôi giả mạo chữ ký lấy tiền tham ô. Họ kéo dài thời gian quá lâu, điều tra thì cứ đến gần ngày hết hạn thì họ mới vào làm việc rồi lại gia hạn thêm thời gian tạm giam tiếp. Đến ngày 9/10/2020 toà sơ thẩm mở. Ngày đầu ra toà người nhà tôi khẳng định chi trả hết không chi riêng tháng nào, nhưng đến hôm sau nghe xúi dục nên khai nhận như xúi dục. Toà án, VKS, CQ CSĐT cứ vịn vào sổ tay cá nhân để kết tội lấy tiền tham ô, trong khi chứng cứ pháp lý là tờ danh sách chi cho các xã có ghi từ tháng 1/2018 đến tháng 7/2018. Có giám định chữ ký lần 2 nhưng VKS, Toà án không đưa vào hồ sơ và nhiều chứng cứ khác, mong quý luật sư hãy giúp gia đình tôi.

Luật sư tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

Thứ nhất, về tội tham ô tài sản

Căn cứ quy định tại Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015:

Điều 353. Tội tham ô tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tin, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;

Theo đó, tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Chủ thể của tội này là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, bầu cử,… được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn trong công vụ, nhiệm vụ đó. Với những đặc điểm nêu trên, người nhà bạn có trách nhiệm quản lý tài sản là tiền truy lĩnh tuổi đảng lấy từ BTC huyện để về chia cho những người đủ điều kiện có tên trong danh sách. Nếu người nhà bạn có hành vi chiếm đoạt số tiền này, tự ý làm giả hồ sơ là đã nhận tiền trợ cấp nhưng thực chất là chiếm đoạt tiền, không trả cho những người có tên, có đầy đủ căn cứ chứng minh thì người nhà bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015.

Thứ hai, về thời hạn tạm giam để điều tra

Trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015 thì có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đây thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng nên theo quy định tại Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Theo đó, với tội phạm rất nghiêm trọng thời hạn tạm giam là không quá 04 tháng, chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam Viện kiểm sát có quyền gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng, tổng thời hạn tạm giam là không quá 07 tháng. Trường hợp của người nhà bạn đã bị tạm giam hơn 01 năm là đã vượt quá thời hạn tạm giam tối đa theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, về việc hỏi cung và đối chất trong giai đoạn điều tra

Căn cứ Điều 183 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về hỏi cung bị can:

Điều 183. Hỏi cung bị can

1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.

Theo đó, việc hỏi cung phải tiến hành ngay sau quyết định khởi tố bị can. Ngoài ra, trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai của nhiều người thì theo quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều tra viên phải tiến hành đối chất:

Điều 189. Đối chất

1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.

Đối chiếu quy định trên, khi có mâu thuẫn trong lời khai, dù đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên phải tiến hành đối chất.

Về cách giải quyết

Việc thực hiện không đúng theo thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bạn có quyền làm đơn khiếu nại đến Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát về hành vi của Điều tra viên.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề anh/chị yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác anh/chị vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Hotline: 1900 6169