LS Nguyễn Phương Lan

Vay tiền đầu tư vốn không trả có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Luật sư tư vấn về trường hợp cho vay tiền để đầu tư chung vốn làm ăn nhưng không trả được có bị khởi tố về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Muốn giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải làm thế nào? Để tìm hiểu thêm về nội dung này bạn có thể tham khảo bài viết sau:

1. Tư vấn về vay tiền đầu tư vốn và trách nhiệm khi không chi trả được.

Hiện tại, rất nhiều người vay tiền không có khả năng chi trả đều lo lắng ho có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản,... hay không? Thế nhưng, đối với các loại tội danh này cần xác định cụ thể thông qua nhiều dấu hiệu của tội phạm nên cần đánh giá một cách tổng quan dựa trên cấu thành tội phạm của tội này. Vì vậy, để tư vấn cụ thể về các trường hợp vay tiền không có khả năng chi trả có phạm tội hay không và những trường hợp nào phải chịu trách nhiệm hình sự bạn có thể liên hệ tới Luật Minh Gia, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung để xác định về vấn đề này.

Để liên hệ với chúng tôi và yêu cầu tư vấn, bạn vui lòng gửi câu hỏi hoặc Gọi: 1900.6169 , bên cạnh đó bạn có thể tìm hiểu thêm tại một số tình huống tư vấn sau đây:

2. Vay tiền đầu tư vốn không trả có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Hỏi: Chào luật sư. Em muốn hỏi về vấn đề là vào năm 2013 bố em có cho 1 người vay số tiền 70triệu và 30 triệu trên danh nghĩa hùm vốn làm ăn ( có giấy vay mượn tiển ). Nhưng trên giấy tờ chỖ mảnh đất để làm ăn đó lại không hề có tên bố em. Từ năm 2013 cho đến nay năm 2017 ngưười đó chưa có giả 1 khoản tiền vay và lãi nào. Bố em đã co vào nhà rất nhiều lần đòi nhưng người đó lúc nào cũng hứa hẹn giả nhưng không giả. Vậy với những đièu trên bố em có thể khởi tố ra toà với tội đanh lừa đảo chiém đoạt tài sản công dân không? . Và mức phạt của tội danh trên là bao nhiêu năm ? Và số tiền người đó mượn có được hoàn trả lại không a?

Trả lời câu hỏi: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công Ty Luật Minh Gia, chúng tôi tư vấn về vấn đề của bạn như sau:

Thứ nhất bố bạn có thể tố giác hành vi của người vay tiền với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Căn cứ Điều 139, Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;                       

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Hành vi cấu thành tội như quy định trên phải thỏa mãn hai dấu hiệu:

Thứ nhất là phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.

Thứ hai là việc thực hiện thủ đoạn gian dối mục đích là để chiếm đoạt tài sản, chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.

Như vậy hành vi vay tiền không trả tiền vay và tiền lãi cho bố bạn của người vay tiền không cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định trên vì việc vay tiền và góp vốn không phải là hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của bố bạn, theo thông tin bạn cung cấp thì người đó vay tiền có cả giấy vay tiền và không có bất cứ thủ đoạn giả dối nào để nhằm mục đích lấy tiền từ bố bạn.Hơn nữa người này vẫn hứa hẹn với bố bạn về việc trả tiền chứ không phải họ có ý định chiếm đoạt luôn số tiền ấy.

Thứ ba, về mức phạt của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì căn cứ vào các mức độ khác nhau của hành vi phạm tội bạn có thể xác định hình phạt theo quy định tại Điều luật đã trích dẫn ở trên.

Thứ tư, bố bạn phải làm gì để đòi lại số tiền trên?

Trường hợp này, nếu bố bạn đã yêu cầu người vay trả tiền mà họ không trả thì bố bạn nên gửi đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp Huyện nơi người vay tiền đang cư trú để đòi lại số tiền đó.

Trân trọng

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí