Vũ Thanh Thủy

Tự ý nghỉ việc khi công ty chưa phê duyệt có phải bồi thường?

Kính gửi Luật sư Tôi nhờ luật sư tư vấn trường hợp như sau: Cách đây khoảng gần 2 tháng tôi có gửi đơn xin nghỉ việc lên giám đốc, sau đó tôi gặp giám đốc xin rút đơn lại và được giám đốc đồng ý nhưng không trả lại đơn cho tôi. Ngày 10.11.18, giám đốc thông báo miệng sẽ duyệt đơn của tôi, đến ngày 21.11 thông báo qua skype tôi sẽ chấm dứt làm việc từ ngày 30.12.2018 và bàn giao công việc cho người khác.

Tôi muốn hỏi luật sư 1 số vấn đề sau:

1. Người sử dụng lao động có quyền cho người lao động nghỉ việc theo đơn xin nghỉ việc khi đã qua thời hạn báo trước trong đơn hay không? (ví dụ báo ngày 05.11 sẽ nghỉ, nhưng ngày 10.11 giám đốc mới duyệt).

 2. Nếu giả sử tôi viết đơn báo trước 45 ngày, xin nghỉ vào ngày 10.11 thì ngày 10.11 giám đốc thông báo duyệt đơn có đúng quy định không. Việc thông báo bằng miệng có được không hay phải bằng văn bản?

3. Nếu bây giờ dựa theo đơn tôi có quyền nghỉ luôn được không (chưa bàn giao tài sản, công việc cho người khác thì có được không, công ty có giải quyết các quyền lợi như lương, phép năm, trả sổ BHXH cho tôi không?)

4. Có quy định nào nói về thời hạn hiệu lực của văn bản pháp luật không (như đơn xin nghỉ việc ở trên). Nếu giám đốc vẫn yêu cầu thì tôi làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình? Xin cảm ơn luật sư!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, các trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt HĐLĐ :

Tại Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định  quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người lao động, theo đó:

“1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.”

Theo quy định này, nếu người lao động thuộc vào một trong các trường hợp nêu trên thì có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, đồng thời, tùy thuộc vào từng loại hợp đồng mà bạn có trách nhiệm thực hiện báo trước một khoảng thời gian hợp lý, 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn, 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn.

Ngược lại, nếu bạn không thuộc một trong các trường hợp được đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì bạn và công ty có thể tự thỏa thuận với nhau về vấn đề chấm dứt HĐLĐ ( theo khoản 4 Điều 36 Bộ luật Lao động 2012). Do đó, khi bạn nộp đơn xin nghỉ thì công ty có quyền xem xét và quyết định có đồng ý về vấn đề cho bạn nghỉ hay không, hiện tại pháp luật không có quy định công ty phải duyệt đơn trong khoảng thời gian báo trước của người lao động nên việc bạn báo ngày 5/11 nghỉ và đến ngày 10/11 công ty mới giải quyết đơn thì không thể xác định là công ty vi phạm.

Thứ hai, về hình thức thông báo khi nghỉ việc:

Theo như phân tích bên trên, nếu bạn thuộc trường hợp được quyền đơn phương chấm dứt mà hợp đồng giao kết là HĐLĐ không xác định thời hạn thì khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo trước 45 ngày làm việc, bạn có quyền nghỉ việc  mà không cần có sự đồng ý của người sử dụng lao động.

Quy định của pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về việc thông báo nghỉ việc buộc phải được lập thành văn bản. Do vậy, việc thông báo bằng lời nói cũng được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, xét thực tiễn thì tuy Pháp luật thừa nhận song vấn đề là phải chứng minh được việc NLĐ có thông báo hay không và thông báo như thế nào? Thực tế cho thấy, nếu không thông báo bằng văn bản thì sẽ rất khó để chứng minh. Đồng thời khi giải quyết tranh chấp thì sẽ chỉ căn cứ vào các chứng cứ, do đó việc thông báo nghỉ việc không bằng văn bản sẽ rất khó chứng minh cụ thể trên thực tế. Bởi vậy, hơn hết thông báo nghỉ việc nên được lập thành văn bản.

Thứ ba, về trách nhiệm bàn giao công việc khi chấm dứt HĐLĐ:

Hiện tại luật không có những quy định cụ thể về bàn giao công việc nhưng bạn có thể căn cứ vào hợp đồng lao động ký kết với bên công ty có điều khoản nào quy định về vấn đề bàn giao công việc hay không, nhưng trong hợp đồng cũng như nội quy công ty không có ghi nhận về vấn đề này thì có thể xác định đây không phải là trách nhiệm của bạn.

Căn cứ theo Điều 47 Bộ luật lao động 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt HĐLĐ:

“…..

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Bên cạnh đó khoản 1 Điều 114 Bộ luật lao động về thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ, cụ thể: “Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.”

Do đó, khi bạn chấm dứt HĐLĐ đúng hoặc trái quy định của pháp luật thì người sử lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ lương, chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ, phải trả sổ BHXH cho bạn.

Trường hợp, công ty không thực hiện đúng nghĩa vụ theo luật quy định bạn có quyền làm đơn gửi tới Phòng lao động thương binh và xã hội hoặc Tòa án có thẩm quyền để được giải quyết.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

P.luật sư tư vấn về lao động – Công ty Luật Minh Gia.

Hotline: 1900.6169