Tuấn Luật sư

Tư vấn về trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn

Kính chào luật sư. Em kí hợp đồng không xác định thời hạn với công ty, vì bị ốm em xin nghỉ việc. Nếu em nộp bệnh án của bác sĩ yêu cầu không đủ sức khỏe làm việc cần nghỉ ngơi, trường hợp này em muốn công ty cho nghỉ luôn thì theo luật sư có được không ạ. (Em muốn nghỉ việc luôn sau viết đơn)


Lương hàng tháng của em = lương sản phẩm + 500.000Đ (tiền chuyên cần) + 300.000Đ ( khoản khác), nếu em phải đền bù cho công ty khi nghỉ việc không báo trước thì sẽ được tính như thế nào ạ ? Theo lương hàng tháng hay lương cơ bản ( hệ số bảo hiểm của e là 2,34, lương vùng 1.150.000Đ)"

Trả lời tư vấn. Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới công ty luật Minh Gia, trường hợp này chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, khi bạn nộp đơn và được công ty chấp thuận thì bạn có thể nghỉ việc luôn. Bên cạnh đó, bạn làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn, do vậy bạn chỉ cần báo trước bằng văn bản cho công ty trong thời hạn 45 ngày là đúng quy định của pháp luật. Vi phạm quy định này trong những trường hợp sau thì bạn sẽ phải bồi thường:

- Bạn nghỉ mà không báo trước: Nếu nghỉ không phép quá 5 ngày, bạn sẽ chịu hình thức kỷ luật sa thải theo Điều 126. Lúc này bạn sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc (nếu có)

- Bạn nghỉ nhưng vi phạm thời hạn báo trước: Bạn sẽ phải chịu bồi thường theo quy định tại Điều 43 về Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Cụ thể:

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Như vậy trong trường hợp này bạn vẫn phải đáp ứng điều kiện báo trước ít nhất 45 ngày theo quy định, trong khoảng thời hạn báo trước, nếu bạn có yêu cầu thì có thể được nghỉ hưởng chế độ ốm đau theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và Bộ luật lao động. Việc công ty có đồng ý cho bạn nghỉ ngay từ khi thông báo nghỉ hay không hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa công ty và bạn.

 

Trân trọng!
C.V Trần Hoàng Việt – Công ty Luật Minh Gia

Đừng lãng phí thời gian vì vướng mắc, hãy để Luật Minh Gia giải quyết vấn đề của bạn!

Tư vấn miễn phí