Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Tư vấn về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

    • 17/02/2019
    • Hoàng Tuấn Anh
    • Luật sư tư vấn về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường và vấn đề bồi thường trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định pháp luật


    Nội dung cần tư vấn : 

    Tôi đang làm việc cho một nhà máy nhiệt điện thuộc tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN). Tháng 6/2013 tôi ký hợp đồng đào tạo 3 tháng, và làm giấy cam kết làm việc cho nhà máy thời hạn 5 năm có gia đình và địa phương xác nhận gửi lại cho công ty, kết thúc hợp đồng đó tôi ký thêm hợp đồng 9 tháng đi đào tạo lại Uông Bí, sau khi về (6/2014) tôi ký  hợp đồng không thời hạn. Lúc này công ty cử tôi đi học tại Trung Quốc và ký một bản cam kết làm việc thêm 3 năm. Nhưng bản này do lúc đó tôi bận về làm thủ tục tạm hoãn nghĩa vụ quân sự thì không biết ở công ty ai đã ký thay tôi và chỉ duy nhất một bản do  công ty giữ, tôi không giữ bản nào. 
    Đến nay là 7/2015 ...
    Câu hỏi 1: Nếu tôi muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì trường hợp nào tôi không phải bồi thường hợp đồng lao động?
    Câu hỏi 2: Nếu tôi phải bồi thường thì trường hợp trên tính như thế nào? (bản cam kết  đào tạo ở Trung Quốc có giá trị không?, tôi có thể trừ thời gian làm việc để giảm tiền bồi  thường không?)
    Câu hỏi 3: Tôi có thể trả chi phí bồi thường nhiều lần không?

    Trả lời tư vấn: 

    Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi, về câu hỏi của anh, tôi xin tư vấn như sau:

    - Thứ nhất: Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường:

    Theo khoản 3 điều 37, bộ luật lao động:

    “Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
     
    Căn cứ vào quy định trên, anh có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với loại hợp đồng vô thời hạn không bị phạt vi phạm, song cũng phải báo cáo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày.

    Theo khoản 1 điều 37 bộ luật lao động:

    Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

    d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

    đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

    e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

    g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.”

    Như vậy, đối với loại hợp đồng lao động có thời hạn, theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng, thì trong những  trường hợp được quy định tại khoản 2 điều 37 Bộ luật lao động, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường
     
    - Thứ hai: Về hiệu lực của bản hợp đồng 3 năm:

    Theo điều 16 Bộ luật lao động:

    “1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.”
     
    Điều 17 Bộ Luật lao động về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động:

    “1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

    2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.”
     
    Như vậy, theo quy định, hợp đồng lao động phải được lập thành 02 bản do mỗi bên giữ một bản và phải được giao kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đằng, hợp tác và trung thực. Theo như thông tin được cung cấp, anh không kí bản cam kết đào tạo ở Trung Quốc, cũng không giữ bản nào của cam kết trên, như vậy, bản hợp đồng này sẽ  vô hiệu theo quy định của pháp luật và anh không phải bồi thường khi chấm dứt hợp đồng, song anh cũng cần chứng minh rằng mình không phải là người đã kí vào bản cam kết làm việc và cũng không được giữ một bản hợp đồng nào.
     
    - Thứ ba: Về vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng:
     

    Theo điều 43 Bộ luật lao động:

    “Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:

    1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

    3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.
     
    Điều 41 Bộ luật lao động:

    “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này”.
     
    Như đã phân tích ở trên:

    + đối với bản hợp đồng lao động vô thời hạn: anh có quyền đơn phương chấm dứt mà không phải bồi thường vi phạm.

    + đối với bản hợp đồng 3 năm, khi anh chứng minh được mình không phải là người kí bản hợp đồng này, bản hợp đồng sẽ vô hiệu và anh có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có trách nhiệm phải bồi thường.

    + Tuy nhiên, vào tháng 6/2013, anh đã kí giấy cam kết làm việc cho nhà máy thời hạn 5 năm, đến nay, thời hạn ấy vẫn chưa kết thúc, nên trong trường hợp anh đơn phương chấm dứt hợp đồng này mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 điều 37 anh sẽ phải bồi thường theo quy định pháp luật (bao gồm nửa tháng tiền lương và phải hoàn trả lại các chi phí đào tạo).

    Pháp luật về lao động không quy định về cách thức bồi thường chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, anh có thể thỏa thuận với người lao động về việc bồi thường một hay nhiều lần.

     

    Trân trọng !
    CV Hằng Nga - Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169