Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Tư vấn chấm dứt HĐLĐ trái luật và vấn đề chốt sổ bảo hiểm khi chấm dứt hợp đồng

    • 29/03/2016
    • Luật sư Trần Khánh Thương
    • Tư vấn về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật; vấn đề chốt sổ bảo hiểm xã hội bắt buộc sau khi chấm dứt hợp đồng, cụ thể:


    Chào luật sư! Em có 2 câu hỏi mong luật sư tư vấn giúp em:

    1: Em kí hợp đồng lao động 1 năm vào 01/11/2015, đến 30/10/2016 thì hết hạn nhưng bây giờ em muốn xin nghỉ, vậy thì e có thể làm đơn xin thôi việc vào ngày 25/02/2016 và đến ngày 01/04/2016 e nghỉ làm được không ạ? Như vậy có bị vi phạm luật lao động không ạ? Và nếu công ty không chấp nhận cho nghỉ hoặc bắt e bồi thường hợp đồng thì em phải làm sao ạ? 

    2: Em nghỉ làm vậy bảo hiểm xã hội của e mới đóng được vài tháng em phải giải quyết như thế nào để có lợi cho e ạ? Xin luật sư giải đáp giúp e, e xin chân thành cảm ơn!

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến công ty chúng tôi. Những vấn đề bạn thắc mắc, chúng tôi tư vấn như sau:

    - Đối với câu hỏi thứ nhất: 

    Theo thông tin bạn cung cấp, bạn ký hợp đồng lao động có thời hạn là một năm. Đến nay, tuy chưa hết hạn hợp đồng nhưng bạn lại muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng.

    Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

    "Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

    1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
    c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

    d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

    đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

    e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

    g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

    a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

    b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

    c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

    3.   ...."


    Hợp đồng của bạn là hợp đồng xác định thời hạn. Theo đó, bạn chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi rơi vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 37 nêu trên đồng thời bạn phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước một khoảng thời gian theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật lao động 2012.

    Nếu bạn nghỉ không có lý do chính đáng mà chỉ báo trước về thời gian vẫn được xem là trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại ĐIều 43 BLLĐ về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

    "1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

    3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."


    - Đối với câu hỏi thứ hai.

    Sau khi thôi việc, dù là đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng luật hay trái luật thì bạn vẫn có quyền yêu cầu công ty chốt và trả sổ bảo hiểm cho bạn để bạn nộp lại cho đơn vị sử dụng lao động mới.

    Điều 47 BLLĐ quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

    "1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

    2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

    3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.


    ..."

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Tư vấn chấm dứt HĐLĐ trái luật và vấn đề chốt sổ bảo hiểm khi chấm dứt hợp đồng. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng!
    Luật gia: Khánh Thương - Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169