Hoài Nam

Trách nhiệm của công ty khi chấm dứt hợp đồng lao động là gì?

Trường hợp nào công ty được chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động? Trách nhiệm của công ty khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật được quy định như thế nào? Luật Minh Gia giải đáp thắc mắc liên quan đến vấn đề này qua tình huống sau đây:

1. Luật sư tư vấn về lao động

Bộ luật lao động thừa nhận quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động nhưng phải đảm bảo căn cứ chấm dứt hợp đồng và thời hạn báo trước theo quy định pháp luật. Trường hợp công ty vi phạm thì công ty có phải bồi thường cho người lao động không?

Nếu bạn đang muốn tìm hiểu về quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này, hãy gửi câu hỏi, ý kiến thắc mắc của mình về Email của công ty Luật Minh Gia hoặc liên hệ Hotline: 1900.6169 để được các Luật sư, chuyên viên hướng dẫn.

2. Luật sư tư vấn về trách nhiệm của công ty khi chấm dứt hợp đồng lao động

Câu hỏi tư vấn: Tôi có nhận công việc tính lương cho người lao động. Tháng 10/2020 tôi có tính sót công tăng ca cho 01 cá nhân người lao động, sau đó tôi có liên hệ với người lao động, người lao động không trách móc hay khiếu nại. Người lao động nói tháng sau bù công là được rồi. Còn về phía Công ty: Trước kỳ lương tháng 11/2020 tôi có báo cho chị trưởng phòng duyệt lương về việc sót công tăng ca của người lao động trong tháng 10/2020 và tôi sẽ bù công trong tháng 11/2020. Đến ngày gửi bảng lương chị giám đốc gọi tôi và chị trưởng phòng lên tra hỏi về việc sót lương của tháng 10/2020, chị trưởng phòng nói không nhận được thông tin tôi báo sót lương tháng 10/2020. Sau đó chị giám đốc gửi mail chấm dứt hợp đồng lao động với tôi vì tôi vi phạm nguyên tắc tính lương. Luật sư cho hỏi: Nếu trường hợp như vậy thì phía Công ty có trách nhiệm gì với tôi không ạ?

Luật sư tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, chúng tôi xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn vì lý do bạn vi phạm nguyên tắc tính lương, căn cứ quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019:

Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

Theo đó, người sử dụng lao động chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động khi thuộc một trong các căn cứ nêu trên. Với trường hợp của bạn, lý do công ty đưa ra là do bạn vi phạm nguyên tắc tính lương để yêu cầu bạn nghỉ việc không thuộc một trong các trường hợp công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nên việc công ty cho bạn nghỉ việc như vậy là trái pháp luật. Trách nhiệm của công ty khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật được thực hiện theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động năm 2019:

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo đó, công ty có nghĩa vụ phải: nhận bạn trở lại làm việc, trả lương, đóng BHXH, BHYT, BHTN trong những ngày bạn không được làm việc và một khoản tiền ít nhất 02 tháng lương; một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước; trợ cấp thôi việc nếu bạn không muốn tiếp tục làm việc. Trường hợp công ty không muốn nhận lại bạn và bạn cũng đồng ý thì bạn có quyền yêu cầu bồi thường thêm, ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Vì vậy bạn có quyền yêu cầu công ty phải thực hiện đúng theo quy định, trường hợp có tranh chấp xảy ra bạn có thể yêu cầu giải quyết tại Hòa giải viên lao động hoặc Tòa án.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề anh/chị yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác anh/chị vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí