Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Quyền chốt sổ bảo hiểm của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động?

    • 16/03/2016
    • Phùng Gái
    • Kính gửi Luật sư Minh Gia tôi muốn hỏi luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề như sau. Tôi hiện làm kế toán tổng hợp cho một công ty vận tải, ngày 10/10/2015 tôi có làm đơn xin nghi việc và đã gửi Giám đốc công ty.


     Ban lãnh đạo công ty đã nhận đơn của tôi và đã đồng ý cho tôi nghỉ việc nhưng chỉ là bằng miệng trong cuộc họp mà k có văn bản hay quyết định. Hợp đồng của tôi với công ty là hợp đồng không xác định thời hạn, theo như quy định thì tôi đã thông báo cho công ty trước 45 ngày. Nhưng đến nay công đã tuyển người nhưng không giải quyết cho tôi nghỉ việc mà bắt tôi phải chịu trách nhiệm về công việc cho hết năm tài chính. Tôi gửi đơn ngày 10/10/2015 và tôi chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo đến hết ngày 30/09/2015. Tôi muốn hỏi công ty có quyền bắt tôi phải làm vậy hay không và đến thời diểm này tôi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng hay không. Và nếu tôi đơn phương chấm dưt hợp đồng thì tôi có thể kiện khi công ty không giai quyết trả sổ BHXH cho tôi hay không?

    Xin luật sư tư vấn giúp. Tôi xin trân thành cảm ơn!

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới công ty Luật Minh Gia, với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

    Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 

    Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
    ...

    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:


    a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

    b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

    c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

    3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.


    Trong trường hợp trên hợp đồng của chị là hợp đồng lao động không xác định thời hạn, về nguyên tắc khi đơn phương chấm dứt thì có nghĩa vụ báo trước 45 ngày làm việc. Đồng thời, chị đã nộp đơn xin nghỉ việc và tuân thủ thời hạn báo trước là 45 ngày, công ty đã đồng ý. Như vậy, sau 45 ngày từ ngày chị thông báo, hoàn tất các thủ tục bàn giao công việc, sổ sách cho công ty thì chị có thể nghỉ việc.

    Việc công ty chấp nhận đơn và yêu cầu chị chịu trách nhiệm về các số liệu đến hết năm là không có căn cứ pháp lý?

    -Thứ hai, về trách nhiệm của người sử dụng lao động

    Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

    1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

    2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

    3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

    4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

    Như vậy, sau khi chấm dứt hợp đồng công ty có nghĩa vụ chốt sổ bảo hiểm, thanh toán các khoản liên quan cho chị. Trường hợp, công ty không chốt sổ bảo hiểm thì có thể làm đơn khiếu nại tới Ban giám đốc công ty hoặc ban chấp hành đoàn cơ sở để được giải quyết thỏa đáng.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Quyền chốt sổ bảo hiểm của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

     

    Trân trọng!
    CV P.Gái -công ty Luật Minh Gia.

     

     

    Hotline: 1900.6169