Luật sư Dương Châm

Quy định sửa đổi nội dung hay chấm dứt hợp đồng lao động trong quá trình thực hiện không?

Chào Luật sư, Tôi đang có một chút thắc mắc mong luật sư giải đáp dùm, tôi đang làm cho một công ty cổ phần, hợp đồng lao động từ 10/2014, thời hạn 2 năm, mới ký lần đầu. Bây giờ tôi cảm thấy mình chưa được nhận mức lương tương xứng so với khối lượng công việc mình làm, vậy tôi muốn thỏa thuận lương mới khi hợp đồng lao động có thời hạn chưa hết liệu có hợp lý không. Và giả sử tôi muốn nghỉ việc thì cần phải thông báo như thế nào theo Luật Lao Động. Mong nhận được phản hồi từ Luật sư, Cảm ơn

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, về việc sửa đổi nội dung hợp đồng lao động

Theo quy định tại điều 35 Luật Lao động 2013 thì:

“1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

2. Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.

3. Trong trường hợp hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết.”

Trong trường hợp của bạn, việc bạn thấy mức lương không tương xứng với khối lượng công việc và muốn thỏa thuận lại mức lương là hoàn toàn hợp lý. Để thay đổi một phần nội dung hợp đồng lao động (nội dung về tiền lương) bạn phải thực hiện thủ tục quy định tại điều 35 được trích dẫn nêu trên.

 

Thứ hai, về việc chấm dứt hợp đồng lao động

 

Theo thông tin bạn cung cấp thì hợp đồng lao động của bạn được ký kết với thời hạn là 2 năm. Như vậy đây là hợp đồng lao động xác định thời hạn. Với loại hợp đồng này, người lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 37 Luật lao động:

“1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.”

 

Chỉ khi bạn thuộc các trường hợp được quy định như trên thì bạn mới được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Bên cạnh đó, bạn phải thực hiện nghĩa vụ báo trước theo quy định tại khoản 2 điều 37 Luật Lao động. Cụ thể:

“Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

 

Nếu bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì bạn sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại điều 43 Luật lao động. Cụ thể:

“1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

 

Trân trọng

Luật gia Nguyễn Ngân - Công ty Luật Minh Gia

Hotline: 1900.6169