Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Quy định NLĐ mỗi tháng phải nghỉ 1 ngày nghỉ hàng năm có vi phạm pháp luật?

    • 28/08/2020
    • Đồng Xuân Thuận
    • Theo quy định của pháp luật lao động, trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động người lao động sẽ có những ngày nghỉ nhưng vẫn được hưởng lương theo quy định. Ngoài những ngày nghỉ lễ, tết đã được quy định sẵn thì người lao động còn có ngày nghỉ hàng năm cũng là ngày người lao động được nghỉ và có hưởng lương.

    1. Luật sư tư vấn quy định pháp luật về ngày nghỉ hàng năm

    Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm đảm bảo các chế độ của người lao động theo đúng quy định của pháp luật. Trong đó, chế độ nghỉ phép năm là một trong những chế độ mà người sử dụng lao động phải đảm bảo cho người lao động. Chế độ nghỉ phép hàng năm sẽ đảm bảo cho người lao động có được một khoảng thời gian nghỉ việc để thực hiện các công việc cá nhân.

    Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng người sử dụng lao động không đảm bảo chế độ nghỉ hàng năm cho người lao động hoặc có quy định chế độ nghỉ hàng năm nhưng không phù hợp với quy định diễn ra rất phổ biến. Hành vi vi phạm của người sử dụng lao động đã gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người lao động.

    Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động và tránh được các rủi ro không đáng có phát sinh đối với doanh nghiệp khi thực hiện quy định liên quan đến ngày nghỉ hàng năm quý khách có thể liên hệ với công ty Luật Minh Gia thông qua các hình thức như gửi Email tư vấn hoặc gọi tới số 1900.6169 để được bộ phận tư vấn pháp luật lao động của chúng tôi tư vấn cụ thể về các vấn đề này.

    2. Quy định NLĐ mỗi tháng phải nghỉ 1 ngày nghỉ hàng năm có vi phạm pháp luật?

    Câu hỏi: Xin Chào Luật Sư! Tôi làm tại công ty đã được hơn 2 năm. Dạo gần đây công ty lại có quy định về việc nghỉ phép như sau: nghỉ phép phải báo trước 24h và không duyệt phép ngày thứ 7 và Chủ nhật với lý do thiếu người. Chúng tôi được công ty yêu cầu nên chia đều phép năm trong các tháng- nghĩa là mỗi tháng phải nghỉ một ngày phép vì có thể cuối năm sẽ không hoàn lại tiền phép nếu còn ngày phép chưa nghỉ.

    Vậy theo Luật lao động công ty tôi thực hiện như thế có đúng không? Quy định pháp luật về vấn đề nghỉ phép thế nào mong luật sư tư vấn, tôi xin cảm ơn!

    Quy định NLĐ mỗi tháng phải nghỉ 1 ngày nghỉ hàng năm có vi phạm pháp luật?
    NLĐ được nghỉ hàng năm hưởng nguyên lương

    Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới Luật Minh Gia, vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về việc công ty quy định mỗi nhân viên phải nghỉ phép 1 ngày trong tháng

    Bộ luật lao động 2012 quy định về nghỉ hàng năm như sau:

    “Điều 111. Nghỉ hằng năm

    1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

    a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

    b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

    c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

    2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.

    3. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

    4. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.”

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 111 Bộ luật lao động 2012, công ty có thể quy định lịch nghỉ hàng năm chia đều cho các tháng trong năm, tức là mỗi tháng nghỉ 1 ngày làm việc và hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Tuy nhiên, nếu công ty quy định sẽ không thanh toán tiền nghỉ hàng năm những ngày chưa nghỉ cho nhân viên là trái quy định pháp luật, những ngày nghỉ hàng năm mà người lao động chưa nghỉ thì được thanh toán bằng tiền theo quy định tại Điều 114 Bộ luật lao động:

    “Điều 114. Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ

    1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.

    2. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.”

    Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, công ty bạn chỉ có thể khuyến khích nhân viên mỗi tháng nghỉ phép năm 1 ngày hưởng nguyên lương và nếu nhân viên không nghỉ thì phải thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ cho nhân viên.

    Thứ hai, về việc nghỉ phép phải báo trước và không duyệt phép ngày thứ 7, Chủ nhật

    Công ty quy định: khi nghỉ phép phải báo trước cho công ty là không trái quy định của pháp luật, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về thời hạn báo trước khi nghỉ.
    Về việc công ty không duyệt phép nghỉ hàng năm vào những ngày thứ bảy và chủ nhật, hiện nay pháp luật không có quy định cụ thể. Do vậy, lịch nghỉ do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận. Khi có nhu cầu, người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

    >> Luật sư tư vấn thắc mắc về chế độ lao động, gọi: 1900.6169

    -----------------

    Câu hỏi thứ 2 - Tư vấn thắc mắc về tuyển dụng công chức không qua thi tuyển đã có thời gian công tác 60 tháng trở lên

    Nhờ luật sư tư vấn giúp em: Em là viên chức, ký hợp đồng làm việc từ năm 2007, trình độ trung cấp, đến năm 2015 em có bằng đại học luật. Hiện tại em muốn chuyển sang công chức sở giao thông, nhưng theo thông tư 13/2010 có quy định: "b) Người có kinh nghiệm công tác theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau: - Bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Điều 1 Thông tư này; - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; hiện đang công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển; có thời hạn từ đủ 60 tháng trở lên làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo đại học, sau đại học trong ngành, lĩnh vực cần tuyển (không kể thời gian tập sự, thử việc và nếu có thời gian công tác không liên tục thì được cộng dồn); trong thời gian công tác 05 năm gần nhất không vi phạm pháp luật đến mức bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển hoặc thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 điều này." Em chưa rỏ là thời gian công tác từ 60 tháng này là tính từ khi em ký hợp đồng hay từ khi em có bằng đại học? Nếu vậy trường hợp của em có đủ điều kiện chuyển qua công chức hay không? Rất mong luật sư tư vấn giúp em, Cảm ơn luật sư.

    Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi đã tư vấn trường hợp tương tự sau đây:

    >> Quy định về việc tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển

    Căn cứ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 Thông tư 13/2010/TT-BNV về điều kiện, tiêu chuẩn để xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển:

    "b) Người có kinh nghiệm công tác theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP được xem xét tiếp nhận không qua thi tuyển, nếu có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau: 

    - Bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại Điều 1 Thông tư này; 

    - Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; hiện đang công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển; có thời hạn từ đủ 60 tháng trở lên làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo đại học, sau đại học trong ngành, lĩnh vực cần tuyển (không kể thời gian tập sự, thử việc và nếu có thời gian công tác không liên tục thì được cộng dồn); trong thời gian công tác 05 năm gần nhất không vi phạm pháp luật đến mức bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển hoặc thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều này".

    Như vậy, thời hạn từ đủ 60 tháng trở lên phải làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo đại học, sau đại học trong ngành, lĩnh vực cần tuyển. Do trước đó chị làm công việc chỉ yêu cầu trình độ trung cấp nên không được tính vào thời hạn 60 tháng.

    Anh/chị tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình! Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hộ trợ pháp lý khác Anh/chị vui lòng liên hệ bộ phận luật sư trực tuyến của chúng tôi để được giải đáp.

Bài viết nổi bật