Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Nghỉ việc tại công ty có được hưởng chế độ thai sản, chế độ thất nghiệp và trợ cấp thôi việc không?

    • 01/10/2019
    • Nguyễn Kim Quý
    • Luật sư tư vấn về vấn đề điều kiện hưởng chế độ thai sản của người lao động nữ. Nghỉ việc trong quá trình nghỉ thai sản thì có được hưởng chế độ thất nghiệp và trợ cấp mất việc làm không?

    Nội dung tư vấn: Chào Luật sư! Em kí hợp đồng lao động với cty ngày 1/5/2019, sau 1 tháng kí hợp đồng e có thai ngoài ý muốn. Do đó phía cty đang gây khó dễ để e tự động thôi việc. Hiện tại e mang thai đã 15 tuần, đóng bhxh đc 5 tháng liên tục. Công việc của e toàn bộ bị thu hồi, nói rằng chuyển sang phụ việc vặt cho ngkh, nhưng thực tế ko ai nói chuyện, ko ai sai việc, bị cô lập hoàn toàn trong văn phòng. Thứ nhất, e muốn hỏi cty có đang ngược đãi người lao động đang mang thai hay không? Thứ 2, nếu e đóng đủ 6 tháng bhxh liên tục trong vòng 12 tháng trc khi sinh, e có được hưởng chế độ thai sản ko? Thứ 3, đến 1/5/2020 e hết hợp đồng lao động, trong khi vẫn đang nghỉ thai sản nhưng e ko quay lại cty nữa thì e có đc hưởng trợ cấp thôi việc và thất nghiệp không? Mong luật sư giúp đỡ!

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Gia, với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về vấn đề ngược đãi người lao động đang mang thai

    Pháp luật không có định nghĩa về hành vi ngược đãi người lao động nhưng hành vi ngược đãi là hành vi bị cấm tại Điều 8 Luật Lao động 2012:

    “1. Phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.

    2. Ngược đãi người lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

    ...”

    Điều 37 BLLĐ 2012 quy định bạn có thể chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nếu người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi người lao động:

    “Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

    1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

    …”

    Theo như thông tin bạn cung cấp, do mang thai ngoài ý muốn nên bên phía công ty đang cố tình gây khó dễ bằng cách thu hồi công việc và cô lập bạn tại nơi làm việc. Tuy nhiên, tại Điều 11 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành có quy định :

    “Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm c Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp bị người sử dụng lao động đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.”

    Như vậy, bên phía công ty chưa có hành vi đánh đập hay có những lời nói, hành vi nhục mạ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự nên chưa thể xem là hành vi ngược đãi người lao động.

    Thứ hai, về vấn đề hưởng chế độ thai sản

    Căn cứ vào Điều 31 Luật Bảo hiểm năm 2014 quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:

    “1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Lao động nữ mang thai;

    b) Lao động nữ sinh con;

    c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

    d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

    đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

    e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

    2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

    3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

    4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.”

    Theo đó, nếu bạn đã đóng bảo hiểm từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con thì bạn hoàn toàn đủ điều kiện được hưởng chế độ thai sản. Khoảng thời gian này không phụ thuộc vào việc bạn đã đóng bảo hiểm được bao nhiêu năm, chỉ phụ thuộc vào việc bạn có đóng đủ bảo hiểm trong khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh hay không. Khi đã đủ điều kiện này thì bạn sẽ được hưởng chế độ của bảo hiểm xã hội kể cả khi bạn đã nghỉ việc tại công ty.

    Cách xác định thời gian 12 tháng trước khi sinh con như sau: Trường hợp sinh con trước ngày 15 của tháng thì tháng sinh con không được tính vào thời gian của 12 tháng trước khi sinh con. Còn với trường hợp sinh con sau ngày 15 của tháng trở đi và tháng đó có đóng BHXH thì tháng sinh con được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

    Thứ ba, về vấn đề hưởng trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp

    Theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

    “Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

    a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

    b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

    2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

    3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

    4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

    a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

    b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

    c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

    đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

    e) Chết.”

    Như vậy vì hợp đồng của bạn là hợp đồng có thời hạn một năm nên khi bạn chấm dứt hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật (hợp đồng hết hạn và các bên không tiếp tục quan hệ lao động, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của BLLĐ, có quyết định kỷ luật sa thải,…), đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, nộp hồ sơ ra trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động với công ty và sau khi nộp hồ sơ thì chưa tìm được việc làm mới trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ, không thuộc các trường hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 49 Luật Việc làm 2013 thì bạn mới có đủ điều kiện nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.

    Về trợ cấp thôi việc thì Điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định như sau:

    “1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

    2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

    3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”.

    Như vậy, bạn nghỉ việc do chấm dứt hợp đồng có thời hạn 1 năm với công ty, đây là hình thức nghỉ việc đúng luật nên khi nghỉ việc bạn sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp mất việc làm nếu bạn có đủ điều kiện theo luật định. Theo quy định trên thì thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc của bạn là khoảng thời gian làm việc thực tế trừ đi khoảng thời gian bạn đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và khoảng thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc. Vì bảo hiểm thất nghiệp được đóng bắt buộc từ ngày 1/1/2009 nên nếu bạn có khoảng thời gian làm việc từ trước ngày 1/1/2009 thì công ty mới chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn, còn nếu bạn làm việc từ ngày 1/1/2009 thì khi nghỉ việc, bạn sẽ hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm 2013.

    Trân trọng.

    Phòng tư vấn pháp luật Lao động - Công ty Luật Minh Gia.

    Hotline: 1900.6169