Vy Huyền

Nghỉ việc do thay đổi cơ cấu thì hưởng trợ cấp gì?

Luật sư tư vấn về trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu nơi làm việc. Trợ cấp mà người lao động được hưởng trong trường hợp này. Nội dung hỏi và tư vấn như sau:


Nội dung cần tư vấn:

Tháng 9 năm 2010 tôi được Ủy ban nhân dân huyện ký hợp đồng lao động làm việc tại Phòng Văn hóa Thông tin cho đến tháng 11 năm 2014 thì chấm dứt hợp đồng lao động (do đang thực hiện đề án tinh giản bộ máy biên chế, trong đó các hợp đồng bị chấm dứt). Tiền công 6 tháng liền kề tôi nhận được khi chấm dứt hợp đồng là 2.700.000đ/tháng.

Khi chấm dứt hợp đồng tôi có nhận được trợ cấp thôi việc 01 tháng lương là 2.700.000đ. Nhưng theo tôi được biết, theo Bộ luật lao động tại điều 48 thì hợp đồng từ 12 tháng trở lên, khi chấm dứt hợp đồng lao động thì bên sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp thôi việc là mỗi năm 01 nửa tháng lương.

Tôi muốn hỏi việc chi trả chợ cấp như vậy đã đúng chưa, nếu chưa đúng thì bên sử dụng còn chi trả cho tôi với số tiền trợ cấp thôi việc là bao nhiêu? 

 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi nội dung đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

 

Thứ nhất, đối với lý do ủy ban nhân dân chấm dứt hợp đồng lao động với bạn là do thay đổi cơ cấu, muốn xét xem bạn sẽ được hưởng trợ cấp nào thì cần phụ thuộc vào việc sau đó Ủy ban nhân dân có bố trí được việc làm mới cho bạn hay không. Nếu Ủy ban không bố trí được công việc mới phù hợp thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp mất việc làm. Còn nếu Ủy ban bố trí được thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc.

 

Thứ hai, từ những phân tích bên trên, có thể chia làm hai trường hợp:

- Trường hợp 1: Bạn không được bố trí việc làm mới.

 

Khi đó, bạn sẽ được hưởng trợ cấp mất việc làm. Cụ thể, Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

- Trường hợp 2: Bạn được bố trí việc làm mới.

Khi đó bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc. Cụ thể, Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012 quy định.

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

 

Tuy nhiên, thời gian tính để được hưởng trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm đều phụ thuộc vào thời gian bạn tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Từ ngày 1/1/2009, doanh nghiệp buộc phải đóng cả bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động nên nếu từ năm 2010 đến 2014, bạn tham gia bảo hiểm đầy đủ thì trong cả 2 trường hợp này, bạn chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trợ cấp thất nghiệp được quy định cụ thể tại Luật việc làm năm 2013 như sau:

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.

Như vậy việc Ủy ban nhân dân chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn là chưa hợp lý và chưa đúng với quy định của pháp luật lao động.

 

Trân trọng.
Luật gia: Trần Hoàng Việt – Công ty Luật Minh Gia

Gọi ngay