Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Nghỉ ngang, công ty có được quyền bắt bồi thường 30% tổng số lương không?

    • 22/02/2019
    • Nguyễn Thị Nhàn
    • Tôi có làm cho một công ty về máy tính, tôi ký hợp đồng với họ làm trong 3 năm, trong hợp đồng có ghi 4 tháng tăng lương 1 lần theo năng lực, nhưng tôi làm đã làm 7 tháng trong khi làm thì điều kiện để được tăng lương là 1 quý phải bán hàng được 40triệu mới được tăng lương, trong hợp đồng bắt nhân viên tự đóng bảo hiểm, đồ dùng cấp cho nhân viên trong hợp đồng không được phát.


    Do chán nản với mức lương thấp nên tôi đã nghỉ ngang và không báo trước, nghỉ đc 2 ngày thì chủ công ty gọi và đòi tôi bồi thường hợp đồng là 30% tổng số lương đã nhận, nếu không bồi thường thì Cty sẽ đưa ra Pháp luật. Trong trường hợp này nếu đưa ra Pháp luật thì tôi phải bồi thường bao nhiêu và Cty có chịu trách nhiệm pháp lý nào không?

    Rất cảm ơn luật sư và mong có câu trả lời sớm nhất!

    Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất, Theo quy định của Bộ Luật Lao động 2012:

    Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

    1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

    c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

    d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

    đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

    e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

    g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

    2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

    a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

    b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

    c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

    3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.


    Với những lý do theo quy định tại khoản 1, bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng, với loại hợp đồng của bạn có thời hạn 3 năm, thì trước khi chấm dứt hợp đồng đơn phương, bạn phải đảm bảo thời gian báo trước là ít nhất là 30 ngày cho người sử dụng lao động.

    Trường hợp của bạn, không có căn cứ hợp pháp để đơn phương chấm dứt hợp đồng với người sử dụng lao động theo căn cứ tại Điều 37, khi ký hợp đồng, bạn đã đồng ý với những điều khoản trong hợp đồng, nay bạn tự ý nghỉ việc với lý do không chấp nhận được những điều khoản đó về mức lương là không phù hợp với điều kiện để được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

    Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

    3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.


    Theo đó, với việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật của bạn, bạn phải bồi thường cho người sử dụng nửa tháng tiền lương, mà không phải là mức 30% tiền lương đã nhận.

    Và bạn đã vi phạm về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, bạn phải bồi thường cho người sử dụng tiền lương tương ứng với số ngày không báo trước.

    Thứ hai, về trách nhiệm của công ty về việc đóng BHXH cho người lao động:

    Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006:

    Điều 18.Trách nhiệm của người sử dụng lao động

    1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:

    a) Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội;

    b) Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của người lao động trong thời gian người lao động làm việc;

    c) Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc;

    d) Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xã hội;

    đ) Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động;

    e) Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41, Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật này;

    g) Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

    h) Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;

    i) Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

    2. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, hằng tháng người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 102 và trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp. 


    Việc đóng BHXH cho người lao động, trích từ tiền lương của người lao động để đóng BHXH là trách nhiệm của người sử dụng lao động, nhưng nếu giữa 2 bên đã có sự thỏa thuận về việc người lao động tự đóng phần BHXH của mình mà bạn đã đồng ý thì việc này cũng được coi là hợp pháp. Phía công ty có thể không phải chịu trách nhiệm cho hành vi này của mình.

    Trân trọng

    C.V Hoàng Ngàn. Công ty Luật Minh Gia

    Hotline: 1900.6169