Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Luật sư tư vấn về vấn đề tai nạn lao động.

    • 18/02/2019
    • Lê Thị Thanh Quỳnh
    • Nhà mình có xe tải chở hàng và có thuê 1 người giúp bốc vác hàng đã được hơn 1 năm. Hôm đó khi xe đang đi đến ổ gà vì xóc nên anh ấy bị ngã từ thùng xe xuống chấn thương nặng trên đường đi cấp cứu thì đã tử vong ( lỗi là do anh ấy không cẩn thận).Gia đình mình đã cùng đưa xác về và đưa 50 triệu cùng lo hậu sự. Sự việc đến nay đã được 1 tháng. Anh ấy có vợ và 1 con nhỏ 3 tuổi. Xin hỏi là bây giờ gia đình anh ấy kiện thì gia đình mình sẽ phải chịu thêm những chi phí bồi thường như thế nào?

    Trả lời: Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tường và lựa chọn Luật Minh Gia. Đối với trường hợp của bạn tôi xin tư vấn như sau:

    Căn cứ khoản 1 điều 142 Luật lao động 2013 có quy định như sau:

    “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.”

    Như vậy, theo như trường hợp bạn đưa ra thì người này bị tai nạn dẫn tới tử vong khi đang di chuyển gắn liền với việc thực hiện công việc

    Theo quy định tại điều 145 Luật lao động quy định như sau:

    1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

    2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

    Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

    3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

    a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

    b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

    4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

    Như vậy, nếu người đã đứng ra thuê người lao động này (tạm gọi là A) đã đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì bên bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm chi trả bồi thường.Còn nếu A  chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội thì A phải chi trả trợ cấp 1 lần như sau:

    “Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở.”

     Đối với trường hợp tai nạn lao động xảy ra là do lỗi của người lao động thì người thân của người lao động sẽ được trợ cấp một khoản tiền bằng ít nhất 40% của ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động ( tức là ít nhất bằng 12 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động).

    Ngoài ra, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương (nhưng trừ đi thời gian người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp).

    Như vậy, nếu gia đình bên người lao động kiện thì A phải bồi thường đầy đủ các chi phí bồi thường đã nêu trên. Nếu tính tất cả các khoản trên là hết tổng 50 triệu thì A không phải bồi thường thêm.

    A phải chịu trách nhiệm với khoản bồi thường này, nếu không thực hiện thì bên người lao động hoàn toàn có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền.

    Trân trọng.
    Chuyên viên Lê Yến - Công ty Luật Minh Gia.

    Hotline: 1900.6169