LS Xuân Thuận

Lao động nữ 53 tuổi, đóng BHXH 33 năm có được hưởng trợ cấp tinh giản biên chế không?

Câu hỏi đề nghị tư vấn: Thưa luật sư! tôi tên P, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1965 hiện là giáo viên dạy tiểu học, vào ngành ngày 1 tháng 12 năm 1985 (hiện tại đã đóng BHXH là gần 30 năm). Tôi muốn xin nghỉ hưu trước tuổi ở thời điểm cận nhất của đủ tuổi 53 (nữ).Vậy tôi nên xin nghỉ việc từ ngày, tháng năm nào để vẫn lãnh 75% lương của lương hưu và quan trọng là nhận được gói trợ cấp theo Nghị định 108. Nhờ tư vấn rất cám ơn luật sư!


Trả lời tư vấn: Cảm ơn bác đã tin tưởng gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới Luật Minh Gia, vấn đề bác hỏi chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, trợ cấp theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP

Để được hưởng chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP, cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế phải thuộc đối tượng tinh giản biên chế theo quy định tại Điều 6 Nghị định này:

“Điều 6. Các trường hợp tinh giản biên chế

1. Cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và cán bộ, công chức cấp xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là cán bộ, công chức, viên chức), thuộc đối tượng tinh giản biên chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự;

b) Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác;

c) Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn;

d) Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc
được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác.


đ) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

e) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

g) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành.”

Như vậy, việc có được hưởng chính sách tinh giản biên chế hay không không phụ thuộc vào thời điểm nghỉ việc, người được hưởng chính sách này phải thuộc đối tượng tinh giản biên chế theo quy định nêu trên. Khi bác thuộc đối tượng tinh giản biên chế và có quyết định tinh giản biên chế của cơ quan thì bác sẽ được hưởng trợ cấp và các quyền lợi khác theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP.

Thứ hai, mức lương hưu

Bác sinh ngày 15/9/1965, hiện là giáo viên dạy tiểu học, vào ngành từ 1/12/1985 (hiện tại đã đóng BHXH là gần 30 năm). Bác muốn nghỉ hưu trước tuổi ở thời điểm cận nhất của đủ tuổi 53. Khi đó, điều kiện hưởng lương hưu và mức lương hưu bác sẽ được hưởng như sau:
Điều kiện (tính đến ngày 15/9/2018):
Tuổi: 53;
Số năm đóng BHXH: 32 năm 9 tháng đóng BHXH (làm tròn 33 năm);
Giới tính: nữ.

Như vậy, bác đủ điều kiện về số năm đóng BHXH nhưng chưa đủ điều kiện về độ tuổi nên bác có thể bảo lưu số năm đóng BHXH và đợi đến khi đủ 55 tuổi thì sẽ được hưởng lương hưu hàng tháng.

Mức hưởng:

Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định:

“Điều 56. Mức lương hưu hằng tháng
…….
2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.
Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

3. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.
Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi.
………”

Căn cứ quy định nêu trên, cách tính lương hưu của bác như sau:

15 năm đóng BHXH được hưởng 45% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH; 18 năm đóng BHXH còn lại được hưởng 36% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Tổng: 45% + 36% = 81% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

Bác nghỉ hưu trước tuổi 2 năm nên sẽ bị trừ 4% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Mức lương hưu hàng tháng tối đa được hưởng là 75% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH, do vậy, đến khi bác đủ 55 tuổi thì bác sẽ được hưởng lương hưu hàng tháng với mức là 75% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Ngoài ra, bác còn được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu theo Điều 58 Luật bảo hiểm xã hội 2014 với mức 0,5 x (33 – 25) = 4 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Trân trọng!
CV. Danh Thị Huệ - Công ty Luật Minh Gia

Để giải quyết nhanh nhất vấn đề của bạn, hãy liên hệ

Tư vấn miễn phí