Hỏi đáp pháp luật Lao động

  • Làm việc trong môi trường nặng nhọc thì bao nhiêu tuổi được nghỉ hưu?

    • 23/09/2020
    • Nguyễn Thị Biển
    • Người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có độ tuổi nghỉ hưu sớm hơn so với những người lao động làm các công việc bình thường không? Các nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được quy định ở đâu? Mức hưởng hương hưu đối với nhưungx người này được tính như thế nào? Công ty Luật Minh Gia tư vấn như sau:

    1. Luật sư tư vấn về pháp luật lao động

    Lao động là hoạt động gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động khi phải làm việc, thực hiện trong thời gian lâu dài nên nhà nước đã có xây dựng nhiều chính sách nahừm đảm bảo cuộc sống cũng như khôi phục sức khỏe cho người lao động. Tuy nhiên, khác với các công việc bình thường, các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có sự tàn phá mạnh mẽ đối với người lao động hơn. Do đó, tình trạng sức khỏe của nhưng người lao động này bị giảm sút nhanh, không đảm bảo hiệu quả công việc. Vì vậy, pháp luật đã có những chính sách phù hợp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như các quy định về chế độ hưu trí. Đối với hưu trí, người lao động làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được nghỉ hưu sớm hơn so với các trường hợp khác mà không bị trừ tỉ lệ hưởng lương hưu. Đây là quy định phù hợp với thực tế hiện nay.

    Do đó, nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các vấn đề liên quan đến bảo hiểm xã hội, đặc biệt về chế độ hưu trí, cho người lao động làm việc trong môi trường nặm nhọc, đốc hại, nguy hiểm, bạn có thể liên hệ với chúng tôi thông qua hình thức gửi Email tư vấn hoặc liên hệ qua tổng đài 1900.6169 để được hỗ trợ tư vấn.

    2. Tư vấn về điều kiện hưởng lương hưu khi người lao động làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại

    Nội dung tư vấn như sau: Tôi muốn được Luật sư tư vấn về nghỉ hưu trước tuổi cụ thể như sau:Tôi năm nay 53 tuổi, đang công tác tại 1 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên.Năm 1985 tôi được tuyển vào Đoàn đo đạc công trình và học công nhân đo đạc. Ra trường tôi được phân công vào Xí nghiệp Trắc địa 104 thuộc Cục đo đạc bản đồ.(Là công nhân đo đạc). Làm việc từ đó đến tháng 9 năm 2002 thì tôi xin chuyển về Trung tâm giáo dục thường xuyên (nay là TT GDNN - GDTX)  là nhân viên bảo vệ được 17 năm. Tôi xem sổ đóng Bảo hiểm xã hội thì được đóng ngay từ khi tôi học công nhân(1985) đến nay.Mà tôi được biết thời gian 17 năm tôi làm việc ở Xí nghiệp trắc địa là môi trường làm việc khó nhọc thì được xét nghỉ hưu trước 5 năm có đúng không? Nay tôi đã chuyển công tác có được tính như vậy nữa không? Nếu được thì tôi đến năm 55 tuổi là nghỉ và cách tính lương hưu như thế nào? Xin Luật sư tư vấn giúp cho. Tôi Xin cảm ơn nhiều

    Trả lời: Cảm ơn chú đã tin tưởng gửi yêu cầu tư vấn đến công ty Luật Minh Gia, với vụ việc của bạn chúng tôi có quan điểm tư vấn như sau:

    Căn cứ theo quy định tại điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về điều kiện nghỉ hưu như sau:

    Điều 54. Điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

    b) Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;

    c) Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò;

    d) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

    ..

    Theo đó nếu chú đã có 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc độc hại và số năm tham gia bảo hiểm là từ 20 năm trở lên thì điều kiên về độ tuổi để hưởng lương hưu là từ đủ 55 tuổi đến 60 tuổi. Do đó khi công việc đo đạc là công việc thuộc danh mục nặng nhọc thì chú sẽ được nghỉ hưu tại thời điểm chú 55 tuổi.

    Về mức hưởng lương hưu theo quy định tại điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 như sau:

    "1. Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

    2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

    a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

    b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

    Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%".

    Đối chiếu với trường hợp trên chú tham gia bảo hiểm từ năm 1985 nhưng không rõ trong thời gian từ đó đến nay có liên tục hay không cho nên cần căn cứ vào thời gian tham gia bảo hiểm để  xác định mức hưởng lương hưu. Nếu chú tham gia liên tục từ 1985 đến năm chú 55 tuổi thì tổng số năm tham gia bảo hiểm là 35 năm cho nên chú được hưởng 75% mức bình quân tiền lương. Ngoài ra chú còn còn được trợ cấp 1 lần cho 2 năm vượt quá mức tối đa là 75% mức bình quân tiền lương. Vì không rõ chế độ tiền lương của chú cho nên chúng tôi không có căn cứ xác định mức bình quân tiền lương, về cách tính mức bình quân tiền lương được tính theo nguyên tắc tại điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, cụ thể:

    Điều 62. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:

    a) Tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

    ...

    2. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

    3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn hỏi và quan tâm. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng gọi đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi - Số điện thoại liên hệ: 1900.6169 để được hỗ trợ kịp thời.

    Hotline: 1900.6169