Luật sư Trần Khánh Thương

Hỏi về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

Trong trường hợp người sử dụng lao động không bố trí được công việc cho người lao động thì việc chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện như thế nào? Luật Minh Gia giải đáp vướng mắc liên quan đến trường hợp này như sau:

1. Luật sư tư vấn luật lao động

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, đôi khi tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không được thuận lợi dẫn đến việc doanh nghiệp cần thu hẹp quy mô và buộc phải chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động.

Khi đó, để thực hiện đúng quy trình theo luật định và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, doanh nghiệp cần tham khảo kỹ các quy định của Bộ luật Lao động hoặc tham khảo ý kiến luật sư có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Trường hợp doanh nghiệp của bạn không có thời gian tìm hiểu hoặc không có luật sư riêng, bạn hãy liên hệ Luật Minh Gia để chúng tôi giải đáp và hướng dẫn các phương án cụ thể.

Để được hỗ trợ, tư vấn pháp lý về các vấn đề liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động, doanh nghiệp của bạn hãy gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc Gọi: 1900.6169 để được tư vấn.

Ngoài ra, doanh nghiệp của bạn có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để có thêm kiến thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Tư vấn về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

Hỏi: Chào luật sư, Công ty tôi là công ty cổ phần. Khi bàn giao xong không bố trí sắp xếp được việc làm cho một số LĐ. Vậy tôi có quyền chấm dứt HĐLĐ với người này không? Luât sư cho tôi hỏi quy định pháp luật đối với trường hợp của chúng tôi thế nào? Tôi xin cảm ơn!

Trả lời: Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của anh chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ vào quy định của BLLĐ 2012 về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong một số trường hợp nhất định, đồng thời cũng quy định một số trường hợp, NSDLĐ không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động. Cụ thể:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Do thông tin anh cung cấp là “Khi bàn giao xong không bố trí sắp xếp được việc làm cho một số LĐ” chưa cụ thể, rõ ràng, nên chúng tôi không có cơ sở để nhận định. Do vậy, anh cần đối chiếu trường hợp cụ thể của công ty để xác định được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của mình.

Nếu rơi vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ thì NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và phải tuân thủ về thời gian báo trươc quy định tại khoản 2 Điều 38. Nếu không thuộc các trường hợp trên mà NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thì được xem là trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Hỏi về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

>> Tư vấn pháp luật Lao động qua tổng đài: 1900.6169

Tuy nhiên, nếu rơi vào một trong các trường hợp tại Điều 39 BLLĐ 2012 thì người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật này.

4. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.”

Nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì NSDLĐ có các nghĩa vụ sau:

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. (Điều 42 BLLĐ 2012)

Với những quy định trên, hi vọng anh đã rõ về trường hợp của mình, nếu còn vấn đề gì  vướng mắc, anh có thể liên hệ với chúng tôi để cung cấp thêm thông tin và được tư vấn kịp thời.

Hotline: 1900.6169