Vũ Thanh Thủy

Giám đốc có được hưởng trợ cấp thôi việc không?

Chào luật sư. Tôi làm công nhân năm 1976, ký hợp đồng không xác định thời hạn. Công ty tôi cổ phần 51 phần trăm từ tháng 2/2008. Tôi được HĐQT bổ nhiệm làm giám đốc công ty cổ phần năm 2010 đến tháng 4/2018.

Tháng  5/2018 tôi  không  còn  làm  giám  đốc cho đến  tháng  11, tôi đủ  tuổi  về hưu. Vì  vậy điều chuyển  công  việc là  chuyên  viên. Hiện  Công ty trả  lương  tôi  12.000.000 đ /tháng.  Ngày  15/5 2018 tôi  làm  đơn  xin nghỉ  việc  từ  ngày  1/7/2018. Vậy tôi  có được  công ty  thanh toán  trợ  cấp  thôi  việc  không.  Và  thời  gian thanh toán  trợ  cấp  thôi  việc có trừ đi  năm  công  tác  khi tôi  làm  giám đốc không?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Gia, với trường hợp này chúng tôi tư vấn như sau:

Căn cứ theo Điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định về trợ cấp thôi việc, cụ thể:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

Như vậy, Căn cứ theo quy định trên, nếu tại thời điểm bạn nghỉ việc mà không thuộc trường hợp đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí đồng thời đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định của pháp luật, thì khi nghỉ việc sẽ được công ty thanh toán trợ cấp thôi việc.

Bên cạnh đó, Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dấn thi hành một số nội dung của Bộ Luật lao động quy đinh:

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 Điều 36 và người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động.

...

3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.”

Bên cạnh đó, căn cứ theo quy định Điều 140 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006,  kể từ ngày 1/1/2009, người lao động có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn tham gia làm việc từ năm 1976, 2010 – 2018 bạn được công ty bổ nhiệm giữ chức vụ giám đốc và tháng 5/2018 bạn có đảm nhiệm chức vụ chuyên viên của công ty, sau đó, bạn có viết đơn xin nghỉ việc từ ngày 1/7/2018.

Nếu từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 trở đi, bạn có đóng bảo hiểm thất nghiệp thì thời gian để tính trợ cấp thôi việc của bạn sẽ trừ đi khoảng thời gian bạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Do đó, trường hợp này, bạn sẽ được công ty thanh toán trợ cấp thôi việc từ năm 1976 – 31/12/2008.

Mức trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động 2012 được tính “mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương”.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng.

P.luật sư tư vấn về lao động – Công ty Luật Minh Gia.

Hotline: 1900.6169