1. Trang chủ
  2.  › 
  3. Hỏi đáp pháp luật
  4.  › 
  5. Hỏi đáp Lao động
  • Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không thời hạn

    • 01/04/2021
    • Lò Thị Loan
    • Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc một bên trong quan hệ lao động có ý chí muốn chấm dứt quan hệ lao động với bên còn lại. Vậy trong những trường hợp nào một trong hai bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

    1. Luật sư tư vấn quy định của pháp luật lao động về đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

    Vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động là một trong những vấn đề xảy ra phổ biến trong quan hệ lao động hiện nay. Đặc biệt trong thời gian gần đây, do tình hình dịch bệnh dẫn đến có rất nhiều trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đặc biệt việc đơn phương chấm dứt hợp đồng từ phía người sử dụng lao động. Vậy những quy định cụ thể về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng được quy định như thế nào?

    Đây là thắc mắc, đã có rất nhiều khách hàng đã liên hệ với Luật Minh Gia để được tư vấn. Nếu bạn cũng có những thắc mắc, băn khoăn về vấn đề này thì hãy liên hệ với Luật Minh Gia, Luật sư chúng tôi sẽ hướng dẫn, tư vấn để bạn nắm được các quy định về vấn đề này.

    Để liên hệ với chúng tôi và yêu cầu tư vấn, bạn vui lòng gửi câu hỏi hoặc Gọi: 1900.6169 , bên cạnh đó bạn có thể tham khảo thêm thông qua tình huống chúng tôi tư vấn sau đây: 

    2. Luật sư tư vấn về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

    Câu hỏi tư vấn: Tôi đi làm được 2 năm, công ty và ký hợp đồng không xác định thời hạn: thời gian làm việc 8h/ngày, 6 ngày/tuần (nhưng thực tế làm 9h/ngày, thỉnh thoảng có làm chủ nhât) và công ty có giữ bản chính bằng tốt nghiệp của tôi (trong hợp đồng có ghi người lao động tự nguyện). Bên cạnh đó, hợp đồng có ghi trong thời gian 5 năm nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì phải hoàn trả lại toàn bộ tiền lương 12 tháng. Hiện tại tôi đang nằm viện với lý do suy nhược cơ thể, rối loạn tuần hoàn não. Công ty Luật vui lòng cho tôi hỏi trường hợp bệnh tôi vậy thì thủ tục để đơn phương chấm dứt hợp đồng thế nào là hợp pháp và tôi có phải bồi thường khoản cam kết không? Trường hợp tôi muốn nghỉ việc luôn mà không cần chờ đợi 45 ngày thì có cách nào không ạ? Nếu tôi không chốt sổ bảo hiểm ở công ty, liệu có được đóng bảo hiểm mới ở công ty khác không ạ? Quy định như thế nào? Tôi mong sớm nhận được tư vấn. Tôi cám ơn công ty nhiều ạ!

    Luật sư tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới Công ty Luật Minh Gia. Với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

    Thứ nhất, về thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

    Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 quy định:

    Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

    1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

    a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

    c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

    d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

    a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

    b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

    c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

    d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

    đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

    e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

    g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

    Như vậy, đối chiếu với trường hợp của bạn, bạn đang muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với công ty nhưng vì bạn không cung cấp thông tin bạn ký hợp đồng lao động là hợp đồng xác định thời hạn hay hợp đồng không xác định thời hạn nên trong trường hợp này chúng tôi xin được tư vấn như sau:

    Để chấm dứt hợp đồng lao động với phía công ty bạn cần:

    + Thứ nhất, thông báo ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    + Thứ hai, thông báo ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng

    + Thứ ba, thông báo ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

    Thứ hai, về vấn đề chốt sổ bảo hiểm xã hội.

    Nếu bạn không chốt sổ bảo hiểm ở công ty cũ thì khi làm việc ở công ty mới bạn vẫn có thể đóng bảo hiểm tại công ty mới. Bằng cách bạn cung cấp số sổ bảo hiểm xã hội cho đơn vị mới báo tăng bảo hiểm xã hội cho bạn.

    Tuy nhiên việc công ty không chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bạn khó khăn trong việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội sau này. Vì vây, bạn nên yêu cầu công ty tiến hành chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho mình. Trường hợp công ty không chốt và trả sổ BHXH cho bạn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn thì bạn có quyền khiếu nại đến cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định tại Khoản 1 Điều 118 Luật Bảo hiểm xã hội 2014:

    Điều 118. Khiếu nại về bảo hiểm xã hội

    1. Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và những người khác có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Bài viết nổi bật

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN

Hỗ trợ miễn phí

 1900 6169