Nông Hồng Nhung

DN không trả tiền hoàn thuế TNCN cho NLĐ có vi phạm pháp luật không?

DN không trả tiền hoàn thuế TNCN cho NLĐ có vi phạm pháp luật không? Mô tả: Người lao động được hưởng các chế độ, quyền lợi gì khi doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ? Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, các vấn đề liên quan đến thủ tục hoàn thuế thu nhập cá nhân được thực hiện như thế nào? Luật Minh Gia tư vấn như sau:

1. Luật sư tư vấn Luật Lao động

Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế thì phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật lao động quy định. Vì vậy, nếu bạn và doanh nghiệp của bạn đang gặp phải những vướng mắc liên quan đến vấn đề này như:

- Xây dựng phương án sử dụng lao động;

- Tính các chế độ trợ cấp cho người lao động;

- Các vấn đề khác phát sinh.

Bạn bãy liên hệ Luật Minh Gia để chúng tôi giải đáp và hướng dẫn các phương án cụ thể.

Để được hỗ trợ, tư vấn pháp lý về các vấn đề liên quan đến thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, bạn hãy gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc Gọi: 1900.6169 để được tư vấn.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tình huống chúng tôi tư vấn sau đây để có thêm kiến thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Giải đáp thắc mắc trường hợp chấm dứt HĐLĐ do thay đổi cơ cấu công nghệ và hoàn thuế TNCN cho NLĐ

Nội dung tư vấn: Kính gửi Công ty Luật Minh Gia. Hiện tại tôi đang có 2 vấn đề liên quan tới chế độ chính sách việc làm rất muốn nhờ công ty Luật Minh Gia tư vấn giúp.

1, Hiện nay tôi đang làm cho 1 công ty về hóa chất được gần 7 năm (Bắt đầu làm việc từ 05/9/2011 tới nay). Mảng công việc của tôi liên quan tới 1 nhà cung cấp (Supplier) duy nhất bên Mỹ và gần đây nhà cung cấp không ký hợp đồng phân phối hàng hóa với Công ty hiện tôi đang làm nữa. Dự kiến hết tháng 7/2018 sẽ chấm dứt hợp đồng hợp tác giữa Công ty tôi đang làm với nhà cung cấp. Tôi cũng đã có ý định xin sang làm mảng khác công ty hiện nay, nhưng phòng nhân sự Công ty họ trả lời do có hợp đồng cam kết giữa Nhà cung cấp với Công ty tôi là lấy toàn bộ nhân viên bán hàng cho nhà cung cấp sang làm việc, do vậy họ không thể kí hợp đồng tiếp tục. Cho đến thời điểm này tôi cung chưa nhận được thông tin gì liên quan tới việc làm hiện tại cả, nhưng chắc chắn sẽ chuyển sang làm việc với Nhà cung cấp.

Như vậy cho tôi được hỏi, trong trường hợp Công ty hiện nay chấm dứt hợp đồng với tôi với những lý do kể trên, thì với khoảng thời gian làm việc gần 7 năm đó, Công ty hiện tôi đang làm việc chấm dứt hợp đồng làm việc với tôi là đúng luật hay sai luật? Trong trường hợp này Công ty có phải đền bù gì cho quãng thời gian làm việc gần 7 năm của tôi hay không?

2, Trong thời gian công tác từ 2011 tới nay, 1 vấn đề phát sinh là tiền hoàn thuế thu nhập cá nhân của riêng tôi cũng như của toàn bộ nhân viên công ty từ năm 2011-2013 không được công ty thanh toán, mặc dù chúng tôi đã có thư thắc mắc nhưng không được trả lời, chỉ hứa là sẽ trả lời sớm và tới nay không nhận được thêm bất cứ thông tin gì. Chúng tôi chỉ được hoàn thuế từ 2014 tới nay. Như cá nhân tôi 1 năm được hoàn thuế khoảng 3 triệu đồng. Như vậy 3 năm sẽ tương đương gần 10 triệu đồng. Toàn bộ nhân viên công ty sẽ tầm 80 người trong 3 năm sẽ là một con số không hề nhỏ.

Như vậy với hành vi đó, công ty đã vi phạm vào điều luật gì? Và mức xử lý cho hành vi đó sẽ là như thế nào? Cá nhân chịu trách nhiệm hay Công ty sẽ phải chịu trách nhiệm?

Rất mong nhận được tư vấn pháp luật từ Công ty luật Minh Gia. Xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời tư vấn: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, đối với vấn đề chấm dứt quan hệ lao động:

Căn cứ theo thông tin mà bạn đã cung cấp, bạn không nói rõ căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động giữa bạn với công ty thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vì vậy, khi phòng nhân sự Công ty trả lời do hợp đồng cam kết giữa Nhà cung cấp với Công ty bạn là lấy toàn bộ nhân viên bán hàng cho nhà cung cấp sang làm việc nên họ không thể kí hợp đồng tiếp tục là không có căn cứ theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động 2012.

Do đó, khi công ty lấy lý do trên để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn là không có căn cứ. Và công ty sẽ phải chịu các trách nhiệm do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động 2012:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Thứ hai, đối với vấn đề quyết toán thuế và hoàn thuế thu nhập cá nhân:

Căn cứ theo quy định tại Điều 3, Điều 23 Thông tư 92/2015/TT-BTC như sau:

“a.3) Khai quyết toán thuế

Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo trừ các trường hợp sau:

...

a.4) Ủy quyền quyết toán thuế

a.4.1) Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế thay trong các trường hợp sau:

- Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên tại một tổ chức, cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm ủy quyền quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 (mười hai) tháng trong năm.

- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên tại một tổ chức, cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm ủy quyền quyết toán thuế, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 (mười hai) tháng trong năm, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế 10% mà không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

- Cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới trong trường hợp tổ chức cũ thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp. Cuối năm người lao động có ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức mới phải thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có) để làm căn cứ tổng hợp thu nhập, số thuế đã khấu trừ và quyết toán thuế thay cho người lao động.”

Điều 23. Sửa đổi, bổ sung Điều 53 Thông tư số 156/2013/TT-BTC như sau:

“Điều 53. Hoàn thuế thu nhập cá nhân

Việc hoàn thuế thu nhập cá nhân chỉ áp dụng đối với những cá nhân đã có mã số thuế tại thời điểm đề nghị hoàn thuế.

Đối với cá nhân đã ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thay thì việc hoàn thuế của cá nhân được thực hiện thông qua tổ chức, cá nhân trả thu nhập.

Cá nhân trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế nếu có số thuế nộp thừa thì được hoàn thuế, hoặc bù trừ với số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo.

1. Hoàn thuế đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền quyết toán thuế.

Trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập sau khi bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu của các cá nhân mà có số thuế nộp thừa, nếu đề nghị cơ quan thuế hoàn trả thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập nộp hồ sơ hoàn thuế cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý. Hồ sơ hoàn thuế bao gồm:

- Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước theo mẫu số 01/ĐNHT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC .

- Bản chụp chứng từ, biên lai nộp thuế thu nhập cá nhân và người đại diện hợp pháp của tổ chức, cá nhân trả thu nhập ký cam kết chịu trách nhiệm tại bản chụp đó.

2. Đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế nếu có số thuế nộp thừa thì cá nhân không phải nộp hồ sơ hoàn thuế mà chỉ cần ghi số thuế đề nghị hoàn vào chỉ tiêu [47] - “Số thuế hoàn trả vào tài khoản NNT” hoặc chỉ tiêu [49] - “Tổng số thuế bù trừ cho các phát sinh của kỳ sau” tại tờ khai quyết toán thuế theo mẫu số 02/QTT-TNCN khi quyết toán thuế.”

Như vậy, theo quy định nêu trên, cá nhân phải tự tiến hành các thủ tục quyết toán thuế. Do đó bạn cần phải xem lại bạn có ủy quyền quyết toán thuế của cá nhân bạn cho công ty hay không? Nếu có ủy quyền thì phải ủy quyền bằng văn bản.

Nếu bạn không ủy quyền cho công ty quyết toán thuế thì việc hoàn lại thuế sẽ được hoàn lại trực tiếp cho bạn hoặc bù trừ với số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo.

Trường hợp bạn ủy quyền quyết toán thuế cho công ty thì cơ quan thuế sẽ hoàn thuế cho công ty và công ty phải có trách nhiệm trả lại số tiền thuế đó cho bạn theo nội dung ủy quyền ban đầu. Nếu công ty không trả lại bạn số tiền thuế được hoàn lại từ cơ quan thuế, bạn có thể khiếu nại hành vi của công ty đến cơ quan chức năng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Gọi ngay