Hoàng Thị Nhàn

Công ty không trả tiền thưởng

Nội dung yêu cầu: Em vào làm cty A vào ngày 19 tháng 5 năm 2014. Sau 2 tháng thử việc, từ tháng 8 năm 2014 em tham gia BHXH.... Em làm hết tháng 1 năm 2015, em xin nghỉ thai sản sớm vì thể chất yếu. Đầu tháng 9 năm 2015, em đi làm lại. Đến giữa tháng 6 năm 2016, em nộp đơn xin nghỉ việc.

Theo quy định nhà nước là báo trước 45 ngày, và em bắt đầu nghỉ việc vào ngày 3 tháng 8 năm 2016 - đúng 45 ngày. Nhưng em còn 7 ngày phép năm, và em dùng để nghỉ việc vào ngày trước vào ngày 26 tháng 7 năm 2016. Công ty chấp thuận em sẽ nghỉ việc vào ngày 26 tháng 7 năm 2016 Khi em nghỉ thì công ty trả lương thiếu mất 7 ngày em dùng phép để nghỉ sớm, chỉ trả lương đến ngày 25 tháng 7. Em đã bàn với kế toán nhưng họ không đồng ý, em có nói với quản lý và sau 4 ngày họ đã trả em 7 ngày lương ấy. Công ty có quy định là làm đủ 6 tháng liên tục sẽ được xét tăng lương. Thời gian xét là từ tháng 1 đến cuối tháng 6 năm 2016. Khoảng thời gian này em vẫn còn là nhân viên của cty. Nhưng khi yêu cầu cty trả phần tiền thưởng thì công ty không trả. Về công việc, em hoàn thành tốt mọi việc. Về giờ giấc em đáp ứng đầy đủ, vào sớm về muộn, đôi khi làm lố giờ em chưa bao giờ ghi over time. Lúc trước khi nghỉ sinh em làm việc năng suất vẫn rất tốt, vẫn được thưởng. Hiện nay em làm việc tích cực hơn, năng suất tốt hơn, tay nghề cao hơn nhưng cty xét không thưởng, chỉ vì em nghỉ việc, trong khi thời gian xét thưởng là vào cuối tháng 6, sẽ thưởng vào cuối tháng 7, nhưng em chỉ nhận được lương mà không được thưởng. Vậy liệu em có đủ điều kiện để yêu cầu cty trả tiền thưởng hay không.???? Thời gian làm việc của em từ lúc có tham gia BHXH, BHTN,.... là từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 2 năm 2015 là 6 tháng, sau đó em nghỉ sinh 7 tháng, đến đầu tháng 9 năm 2015 đi làm lại đến tháng 8 năm 2016 là được 11 tháng, vậy tổng thời gian làm việc có hưởng BHXH BHYT BHTN là 17 tháng, bắt buộc phải trên 12 tháng liên tục hay chỉ cần tính tổng thời gian làm việc có tham gia BH là được??? Em có đủ điều kiện để yêu cầu công ty trả tiền trợ cấp thôi việc không??? Xin cám ơn luật sư!!!

Trả lời: Cảm ơn anh/chị đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, về vấn đề này chúng tôi tư vấn như sau:

Bộ Luật dân sự quy định về Hứa thưởng:

1. Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng.

2. Công việc được hứa thưởng phải cụ thể, có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội.

Theo đó, khi đáp ứng các yêu cầu của công ty về công việc, năng suất,… mà công ty quy định thì công ty có nghĩa vụ trả thưởng cho bạn. Nếu công ty không trả thưởng, bạn có thể khiếu nại theo căn cứ dưới đây:

Bộ Luật Lao động 2012 quy định:

Điều 103. Tiền thưởng

1. Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

Bộ Luật lao động có quy định rõ, tiền thưởng do người lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào: Kết quả sản xuất hằng năm của công ty và mức độ hoàn thành công việc. Trường hợp của bạn, quy chế công ty có quy định xét thưởng là từ tháng 01 đến cuối tháng 6, trong thời gian này bạn vẫn là nhân viên của công ty và đã thực hiện tốt công việc được giao, không vi phạm các quy định của công ty thì theo đó bạn cũng là người được hưởng tiền thưởng. Việc công ty lấy lý do bạn xin nghỉ việc (nộp đơn xin nghỉ) mà không trả thưởng là không đúng. Bạn có thể khiếu nại với công ty để yêu cầu giải quyết.

Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:

Điều 3. Giải thích từ ngữ

5. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội là thời gian được tính từ khi người lao động bắt đầu đóng bảo hiểm xã hội cho đến khi dừng đóng. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

Điều 39. Mức hưởng chế độ thai sản

2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.

Chiếu theo các quy định trên thì việc bạn hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày trở lên trong 01 tháng được tính là thời gian đóng BHXH và trong khoản thời gian này cũng không được tính là thời gian tham gia BHTN. Theo đó thời gian tham gia BHXH, BHYT là 23 tháng và BHTN là 17 tháng.

Điều 49 Luật việc làm 2013 quy định về Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

……………..

Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng”.

Khi đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp tại điều 49 thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp của bạn như sau:

Mức trợ cấp thất nghiệp= 3 x 60% x Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

Vấn đề về trợ cấp thôi việc: Điều 48 Bộ Luật lao động 2014 quy định trợ cấp thôi việc như sau:

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”

Theo Điều 2 Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi khoản 3 mục III Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH  có quy định cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc như sau:

"Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau:

Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng làm tròn thành 1/2 năm;

Từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 01 năm”.

Theo đó,  khi chấm dứt hợp đồng (không xác định thời hạn) bạn đã báo trước cho công ty ít nhất 45 ngày và đã có thời gian làm việc cho công ty trên 12 tháng. Lúc này, bạn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là thời gian làm việc thực tế cho công ty trừ đi thời gian bạn tham gia BHTN, tức thời gian để tính trợ cấp thôi việc là 06 tháng, được làm tròn tháng 1 năm. Cụ thể:

Mức trợ cấp thôi việc = ½ x Mức tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Gia về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Công ty không trả tiền thưởng. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến - Số điện thoại liên hệ 1900.6169 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

Trân trọng!

CV.Lê Minh – Công ty Luật Minh Gia.

Gọi ngay